giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
Hệ thống chính trị
Skip portletPortlet Menu
 
doanh nghiệp
Skip portletPortlet Menu
 
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
Skip portletPortlet Menu
 
Giới thiệu khái quát thành tựu kinh tế - xã hội của huyện Nghi Lộc (12/05/2011 09:16 AM)
Nghi Lộc là huyện liền kề Thành phố Vinh trung tâm kinh tế - chính trị, văn hoá của cả tỉnh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là bước quan trọng trong công tác kế hoạch hoá kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở để xây dựng các kế hoạch 5 năm và hàng năm; các giải pháp chỉ đạo, điều hành quá trình phát triển kinh tế.

1. Vị trí địa lý kinh tế

Huyện Nghi Lộc là huyện đồng bằng lớn thứ 3 sau huyện Quỳnh Lưu và Yên Thành. Với dân số 195.847 người, diện tích tự nhiên của huyện 34.767,02 ha; gồm 29 xã và 1 thị trấn.

Nghi Lộc có mạng lưới giao thông thuận lợi như đường bộ, đường sắt, đường thuỷ. Có nhiều tuyến giao thông quan trọng chạy qua địa bàn huyện như: Quốc lộ 1A (dài 16km); Quốc lộ 46 (dài 8km); Đường sắt Bắc - Nam (dài 16km); sân bay Vinh; tỉnh lộ 534 (dài 28km); tỉnh lộ 535 (dài 12km). Với chiều dài 14 km bờ biển, có 2 con sông lớn chảy qua địa bàn là Sông Cấm (dài 15km) và Sông Lam (dài 6km). Cùng với hệ thống đường liên huyện, liên xã, liên thôn cơ bản đã được nhựa hoá và bê tông hoá tạo thành mạng lưới giao thông của huyện khá hoàn chỉnh. Thuận lợi cho việc lưu thông giữa huyện với Thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và các huyện trong tỉnh. Là huyện có vị trí quan trọng trong công tác đảm bảo an ninh quốc phòng.

Liền kề với Thành phố Vinh - Đô thị loại I. Trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ (Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ). Đồng thời là nơi cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ và có vị trí tương tác quan trọng.

Huyện có hệ thống giao thông thuận lợi gần sân bay Vinh, Ga Vinh, cảng Cửa Lò, có đường quốc lộ 1A, đường sắt đi qua, các tuyến giao thông tỉnh lộ đi các địa phương phụ cận rất thuận lợi trong việc giao thương phát triển kinh tế. Đặc biệt huyện có 10 xã nằm trong Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An - Khu kinh tế được ưu đãi đầu tư đặc biệt theo Quyết định số 85/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, thuận lợi trong việc thu hút, vận động đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Với vị trí thuận lợi Nghi Lộc có thể khai thác các lợi thế trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá và hoà nhập với xu thế phát triển của tỉnh và khu vực.

2. Về khí hậu

Nghi Lộc thuộc vùng khí hậu có những đặc điểm chung của khí hậu miền Trung nhiệt đới ẩm và gió mùa.

Chế độ nhiệt: Có 2 mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình từ 23,5 - 34,5oC. Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 19,5 - 20,5 oC.

Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.900mm, lớn nhất khoảng 2.600mm và nhỏ nhất 1.100mm. Lượng mưa phân bổ không đều mà tập trung chủ yếu vào nửa cuối tháng 8 đến tháng 10, lượng mưa thấp nhất từ tháng 1 đến tháng 4.

Chế độ gió, bão: Có 2 hướng gió chính gồm: Gió mùa Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; Gió Đông Nam từ tháng 5 đến tháng 10 (tháng 6 và tháng 7 thường có gió Lào khô nóng).

Các hiện tượng thời tiết bất thường như bão, lũ trung bình mỗi năm chịu 3 cơn bão, thường tập trung vào các tháng 8,9 và tháng 10. Bão thường kéo theo mưa lớn gây lũ lụt, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và kinh tế.

3. Về tài nguyên:

3.1. Tài nguyên đất:

Nghi Lộc là huyện đồng bằng ven biển, địa hình đa dạng, có hướng thấp dần từ Tây sang đông và có thể chia thành 2 vùng lớn.

Vùng bán sơn địa: Phía Tây và Tây Bắc của huyện có nhiều đồi núi cao, địa hình có độ dốc chênh lệch nhiều do chia cắt bởi những khe suối; tại những khu vực này có những vùng đồng bằng phù sa xen kẽ tương đối rộng.

Vùng đồng màu: Khu vực trung tâm và phía Đông, Đông Nam của huyện có địa hình tương đối bằng phẳng, chỉ có ít đồi núi thấp xen kẽ độc lập. Đây là vùng có địa hình thấp nguồn nước dồi dào là vùng trọng điểm Lúa của huyện.

Theo điều tra thổ nhưỡng tài nguyên đất của Nghi Lộc có các loại chính sau:

- Đất phù sa cũ có nhiều sản phẩm Feralit:

Tập trung hầu hết các xã vùng Lúa, đất có nguồn gốc từ phù sa hệ thống Sông Lam có diện tích khoảng 6.540ha chiếm 18,81% tổng diện tích. Đất có các chất dinh dưỡng trung bình đến nghèo. Địa hình tương đối bằng phẳng là loại đất trồng Lúa quan trọng của huyện.

- Đất Feralit biến đổi do trồng Lúa:

Phân bố ở các xã Nghi Kiều, Nghi Văn, Nghi Đồng, có diện tích 2.629ha chiếm 7,56% tổng diện tích. Quá trình feralit tầng mặt đã bị hạn chế, tính chất đất thay đổi, đất được sử dụng để trồng Lúa tương đối ổn định.

- Đất dốc tụ:

Có diện tích khoảng 235ha, chỉ chiếm 0,68% tổng diện tích, nằm rải rác ở các xã Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi Kiều. Đất do sản phẩm của dốc tụ tạo thành, thường được sử dụng để trồng hoa màu như: Lạc, đậu, vừng, khoai, sắn hoặc trồng cây lâm nghiệp.

- Đất Feralit vàng đỏ vùng đồi:

Có ở các xã vùng bán sơn địa như Nghi Công Bắc, Nghi Công Nam, Nghi Văn, Nghi Kiều, Nghi Mỹ, Nghi Đồng. Có diện tích khoảng 3.852ha chiếm 11,08% tổng diện tích. Đây là loại đất quan trọng của huyện dùng để làm vườn, trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp khá tốt.

- Đất Feralit xói mòn:

Phân bố ở các vùng núi cao, nhiều nhất là vùng bán sơn địa, có diện tích khoảng 7.177,32 ha chiếm 20,64% tổng diện tích. Hiện tại phần lớn đã được trồng rừng để bảo vệ đất và bảo vệ môi trường.

- Đất mặn:

Phân bố ở vùng hạ lưu Sông Cấm thuộc các xã Nghi Phương, Nghi Đồng, Nghi Thuận, Nghi Hoa, Nghi Long, Nghi Xá, Nghi Tiến, Nghi Thiết, Nghi Quang và rải rác ở một số xã ven biển bị ảnh hưởng của nước mặn thuỷ triều, loại đất này có diện tích 977,59 ha chiếm 2,87% tổng diện tích. Sau khi xây dựng đập Nghi Quang ngăn mặn giữ ngọt nên một số diện tích đã cải tạo để trồng Lúa và nuôi trồng thuỷ sản.

- Đất phù sa không được bồi:

Có ở các xã vùng Lúa dọc theo hai bên Sông nhà Lê, Sông Cấm diện tích có khoảng 3.371,33ha chiếm 9,7% tổng diện tích.

- Đất cát cũ ven biển:

Phân bố hầu hết ở các xã vùng màu, diện tích khoảng 5.911,24 ha chiếm 17,0% tổng diện tích. Đây là loại đất có diện tích lớn nhất của huyện, đất có thành phần là cát pha, hàm lượng sét thấp. Phù hợp cho các loại rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày.

- Đất cồn cát:

Có ở tất cả các xã ven biển như Nghi Thịnh, Nghi Xá, Nghi Trường, Nghi Thạch, Nghi Ân, Nghi Xuân, Nghi Phong, Nghi Thái, Phúc Thọ,... diện tích khoảng 1.376,19 ha chiếm 3,96% tổng diện tích. Đây là loại đất được dùng để trồng cây chắn gió, chắn cát và trồng một số cây chịu hạn như: Lạc, đậu, vừng,...

Theo kết quả kiểm kê diện tích đất theo đơn vị hành chính tại thời điểm 01.01.2008 sau khi trừ 4 xã sáp nhập về Thành phố Vinh.

3.2. Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt: Nghi Lộc có nguồn nước mặt khá dồi dào, bao gồm hệ thống sông Cấm, sông Lam, Kênh nhà Lê và 11 hồ chứa nước, 18 đập chứa nước với trữ lượng trên 21 triệu m3. Nguồn nước mặt dùng để phục vụ sản xuất nông nghiệp và thau chua rửa mặn và ngọt hoá cho vùng đất nhiễm mặn hai bên hạ lưu sông Cấm.

Nguồn nước ngầm: Theo kết quả nghiên cứu địa chất thuỷ văn trước đây, nguồn nước ngầm hiện có ở 3 tầng nước chủ yếu, có ý nghĩa cho việc cấp nước sinh hoạt và phát triển kinh tế như các tầng chứa nước lỗ hổng Holocen; tầng chứa nước lỗ hổng Plestocen và các tầng chứa nước khe nứt và khe nứt Karst.

Do vậy, hiện tại và trong tương lai tài nguyên nước có khả năng đáp ứng được cho sản xuất và phục vụ đời sống sinh hoạt.

3.3. Về tài nguyên rừng

Đất lâm nghiệp của huyện có 9.265,52 ha. Chiếm 26,6% diện tích đất tự nhiên (trong đó rừng sản xuất 3.400,98 ha, rừng phòng hộ 5.864,54 ha). Rừng tập trung chủ yếu ở các xã vùng bán sơn địa được trồng các loại cây thông, keo, phi lao, bạch đàn và trồng rừng ngập mặn ở các xã ven biển để chắn sóng, chắn gió.

3.4. Về tài nguyên khoáng sản

Nghi Lộc không nhiều về tài nguyên khoáng sản, ít chủng loại, chủ yếu chỉ có nhóm làm vật liệu xây dựng và một ít kim loại màu.

Đất sét, cao lanh ở xã Nghi Văn được phát hiện thêm năm 2006, có trữ lượng khoảng 1,750 triệu m3; đá xây dựng có ở các xã Nghi Yên, Nghi Lâm, Nghi Tiến, Nghi Thiết, Nghi Vạn,... Với trữ lượng tuy không lớn nhưng cơ bản đáp ứng được nhu cầu xây dựng trên địa bàn của huyện và cung cấp cho các vùng phụ cận.

Mỏ Barit có ở xã Nghi Văn trữ lượng khoảng 1,81 ngàn tấn, sắt có ở xã Nghi Yên trữ lượng khoảng 841,8 ngàn tấn.

3.5. Về tài nguyên biển

Huyện Nghi Lộc có 14km bờ biển, diện tích khoảng 12.000 km2 mặt biển tạo nên vùng bãi triều tương đối rộng, tập trung ở 7 xã: Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi Thái, Nghi Xuân, Nghi Quang, Nghi Thiết, Phúc Thọ.

Biển Nghi Lộc có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng các loại thuỷ sản như tôm, cua và các loại cá có giá trị kinh tế cao, khai thác phục vụ chế biến thuỷ sản, phát triển du lịch biển.

3.6. Tiềm năng du lịch

Nghi Lộc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái, lịch sử văn hoá và du lịch nghỉ dưỡng. Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp và hấp dẫn như bãi Lữ, Bãi Tiền Phong (Nghi Tiến), Cửa Hiền, Núi Rồng (Nghi Thiết) nước và cát sạch, sóng không lớn, độ sâu thoải, độ mặn thích hợp và có vị trí thuận lợi về giao thông, môi trường thiên nhiên trong lành. Hiện tại khu du lịch Bãi Lữ đã hoàn thành đưa vào khai thác và bước đầu phát huy hiệu quả. Di tích lịch sử văn hoá như Đền thờ Quốc Công Nguyễn Xí (Nghi Hợp), nhà thờ Phạm Nguyễn Du (Nghi Xuân) và các di tích văn hoá quốc gia khác...

Dọc theo sông Cấm và các xã vùng bán sơn địa như Nghi Quang, Nghi Hưng, Nghi Lâm, Nghi Mỹ có cảnh quan thiên nhiên phù hợp cho việc phát triển du lịch sinh thái

A. PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN NGHI LỘC

1. Đánh giá tổng quát về quy mô, tăng trưởng và cơ cấu kinh tế

Quy mô kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, GTGT năm 2005 đạt 284 tỷ đồng tăng 1,7 lần so với năm 2000 và đến năm 2008 đạt 885 tỷ đồng tăng 2,2 lần so với năm 2000 (tính theo giá so sánh).

Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001 - 2005 đạt 12,2%/năm, trong đó ngành Nông - Lâm - Thuỷ sản đạt mức tăng trưởng bình quân 6,34%/năm, công nghiệp - xây dựng đạt 22,52%/năm và ngành dịch vụ đạt 15,95%/năm, giai đoạn 2006-2008 tốc độ tăng trưởng đạt 12,76%. Dự kiến giai đoạn 2006 - 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,43%/năm.

Cơ cấu kinh tế: Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có sự dịch chuyển theo hướng tích cực, tỷ trọng Công nghiệp - xây dựng trong tổng GTGT đã tăng mạnh từ 19,7% năm 2000 lên 33,5% năm 2008, tỷ trọng các ngành dịch vụ tăng từ 21,1% năm 2000 lên 30,9% năm 2008 và tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư giảm từ 58,2% năm 2000 xuống 35,6% năm 2008.2. Thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ yếu.

2.1. Ngành Nông - Lâm - Thuỷ sản

2.1.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu

Giá trị sản xuất (GTSX) ngành Nông - Lâm - Thuỷ sản tăng trưởng ổn định qua các năm. Thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế - xã hội có bước tăng trưởng khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.

Năm 2000 giá trị sản xuất (theo giá so sánh 94) đạt 335 tỷ đồng, trong đó ngành nông nghiệp đạt 292 tỷ đồng, đến năm 2005 đạt 406 tỷ đồng và đạt 473 tỷ đồng vào năm 2008;, ngành lâm nghiệp đạt 9 tỷ đồng,12 tỷ đồng vào năm 2005 và đến năm 2008 đạt 15 tỷ đồng; ngành thuỷ sản đạt 44 tỷ đồng năm 2005, năm 2005 đạt 67 tỷ đồng và đến năm 2008 đạt 75 tỷ đồng.

Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001-2005 đạt 6,34%; giai đoạn 2006 - 2008 đạt 5,25 %. Giai đoạn 2006-2010 ước đạt 5,28%. Tỷ trọng ngành Nông - Lâm - Thuỷ sản từng bước giảm dần năm 2000 còn 58,2%, 44,8% năm 2005 và 35,6% năm 2008.

Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, đưa giống mới vào sản xuất, thâm canh tăng năng suất. Do vậy, ngành có những chuyển biến tích cực tăng dần qua từng năm.

2.1.2. Phát triển các ngành và sản phẩm chủ lực

a. Nông nghiệp

- Trồng trọt: Cơ cấu cây trồng mùa vụ hợp lý, nâng cao hệ số sử dụng đất đạt 1,8 lần (năm 2000) đến năm 2007 đạt 2,4 lần.

Cây Lúa: Ổn định diện tích trồng Lúa, sản xuất trên đất thâm canh chủ động nguồn nước và tập trung vào 2 vụ sản xuất chính là vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu. Chuyển diện tích trồng Lúa kém hiệu quả, năng suất thấp sang nuôi trồng thuỷ sản ở các xã Nghi Quang, Nghi Hợp, Nghi Xá, Nghi Yên, Nghi Đồng và các cây trồng Lạc, Vừng, đậu xanh, Ngô hè ở các xã vùng màu Nghi Long, Nghi Thịnh, Nghi Trường, Nghi Hợp...

Diện tích lúa giảm dần qua các năm từ 17.214 ha (năm 2001) xuống còn 15.503 ha vào năm 2007, giảm hơn 1.700 ha. Nhưng sản lượng lúa vẫn tăng từ 64.783 tấn năm 2001 và đạt 83.569 tấn năm 2007. Nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhất là đưa các giống có năng suất cao và tăng cường đầu tư thâm canh. Do vậy, năng suất tăng nhanh và ổn định từ 36,2 tạ/ha (năm 2001) lên 47,1 tạ/ha (năm 2007).

Cây Ngô: Trước đây chủ yếu trồng xen trên đất Lạc ở các xã vùng màu. Từ năm 2001 diện tích 1.172 ha, năng suất đạt 21,2 tạ/ha và sản lượng đạt 2.489 tấn; Đến năm 2007 cây Ngô đã trở thành cây trồng sản xuất cả 3 vụ trong năm, diện tích đạt 3.977 ha, năng suất đạt 26,9 tạ/ha và sản lượng đạt 10.692 tấn, trong đó vụ Đông có diện tích sản xuất lớn nhất với gần 3.000/3.977 ha cả năm. Ngô không những là sản phẩm phục vụ chăn nuôi mà còn trở thành cây trồng cho thu nhập khá cao, bình quân đạt 10-12 triệu đồng/ha, điển hình như các xã Nghi Hợp, Nghi Khánh, Nghi Thịnh, Nghi Trường...

Cây Lạc: Là cây công nghiệp ngắn ngày chủ lực của huyện. Những năm gần đây diện tích được mở rộng (diện tích, sản lượng đứng đầu tỉnh). Lạc không chỉ sản xuất vụ Xuân mà còn mở rộng sản xuất vụ Thu Đông. Diện tích năm 2001 đạt 4.129 ha, năng suất 14,4 tạ/ha và sản lượng đạt 5.957 tấn; đến năm 2007 diện tích đạt 5.915 ha (trong đó vụ thu đông đạt 1.374 ha), năng suất đạt 25,24 tạ/ha (trong đó vụ Thu đông đạt năng suất 19,6 tạ/ha) và sản lượng đạt 14.932 tấn.

Sau 3 năm thực hiện dự án cải tạo giống (2003-2005), cơ bản giống cũ được thay bằng giống Lạc L14 có chất lượng và năng suất cao, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như thâm canh bằng phủ ni lông, nhất là phủ ni lông cho Lạc trong vụ Đông đưa lại năng suất cao.

Cây Vừng: Sau cây Lạc cây Vừng là cây hàng hoá của huyện. Trong giai đoạn 2001-2004 cây Vừng phát triển nhanh, về diện tích tăng từ 2.700 ha (2001) lên 3.154 ha (2005), 3 năm trở lại đây diện tích Vừng giảm và có xu thế chững lại đến năm 2007 chỉ đạt 1.914 ha. Nguyên nhân do thời tiết trong các năm gần đây diễn biến phức tạp, hạn và mưa lụt nhiều, kết hợp với hạ tầng tiêu úng còn bất cập.

Các cây rau màu thực phẩm: Sản xuất rau, quả đã có bước chuyển biến tích cực. Năm 2007 diện tích trồng rau cả 3 vụ đạt gần 800 ha, đã hình thành được một số vùng trồng rau chuyên canh ở các xã phụ cận Thành phố Vinh và Thị xã Cửa Lò như xã Nghi Trung, Nghi Diên, Nghi Thạch, Nghi Trường, Nghi Khánh, Nghi Hợp, Nghi Long,...

Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã mở rộng thêm về diện tích trồng rau, củ quả với chủng loại đa dạng, sản xuất theo hình thức thâm canh đạt năng suất cao. Năm 2007 tiếp tục đưa thêm cây dưa hấu trồng trong vụ hè cho thu nhập 50-60 triệu đồng/vụ, điển hình ở xã Nghi Long.

- Chăn nuôi: Trong những năm gần đây diễn biến dịch bệnh gia súc, gia cầm có chiều hướng gia tăng, gây khó khăn cho ngành chăn nuôi. Đề án phát triển chăn nuôi của huyện đã mang lại hiệu quả, chương trình cải tạo đàn bò, nạc hoá đàn lợn, gà, chăn nuôi theo trang trại. Đến năm 2007 tỷ trọng chăn nuôi trong ngành nông nghiệp đạt 30%. Quy mô, chất lượng đàn bò lai sind được nâng lên, tỷ lệ đàn bò lai sind đạt 30,6 %/tổng đàn.

Chuyển chăn nuôi từ nhỏ lẻ phân tán sang nuôi tập trung có quy mô lớn hơn, hình thành các trang trại, gia trại, từng bước đưa chăn nuôi ra đồng kết hợp với đào ao nuôi trồng thuỷ sản.

Công tác phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm được tăng cường. Hệ thống thú y từ xã đến huyện được củng cố, công tác tiêu độc khử trùng kịp thời nên ngăn chặn và dập tắt các dịch bệnh.

b. Lâm nghiệp

Trong giai đoạn 2001-2007 diện tích rừng trồng tập trung đạt 2.433 ha, độ che phủ rừng tăng từ 15% năm 1997 lên 21,4% năm 2007. Công tác giao đất, giao rừng, quy hoạch 3 loại rừng được làm tốt. Môi trường sinh thái được cải thiện, đáp ứng nhu cầu phòng hộ và hạn chế lũ lụt.

Thực hiện tốt công tác trồng, chăm sóc khoanh nuôi và bảo vệ rừng; công tác phòng chống cháy rừng. Sản lượng khai thác nhựa thông năm 2007 đạt 400 tấn và 2.500 m3 gỗ tràm, bạch đàn các loại.

c. Thuỷ sản

Ngành có sự phát triển ổn định. Năm 2001 diện tích nuôi trồng thuỷ sản 194,8 ha (trong đó nước ngọt 186,6 ha, nước lợ 8,2 ha). Đến năm 2008 diện tích nuôi trồng thuỷ sản đạt 1.548 ha (Trong đó diện tích cá nước ngọt 1.428 ha, nước lợ 120 ha).

Việc huy động vốn đầu tư đóng mới tàu thuyền ngày càng được nâng lên, đánh bắt hải sản phù hợp với năng lực tàu thuyền và ngư trường, giảm dần khai thác gần bờ làm ảnh hưởng đến nguồn lợi thuỷ sản. Sản lượng khai thác năm 2007 đạt 3.500 tấn, giá trị sản phẩm được nâng cao. Tàu đánh cá năm 2007 hiện có 389 chiếc với tổng công suất 7.573 CV, hình thành đội tàu có công suất >320CV tham gia đánh bắt xa bờ. Các tàu thuyền vỏ gỗ đã được đăng ký, đăng kiểm cấp giấy phép.

Chính sách hộ trợ phát triển của tỉnh, huyện như hỗ trợ chuyển đổi ruộng đất sang NTTS, hỗ trợ giá tôm giống, cá rô phi đơn tính. Từ năm 2001 đến năm 2005 đầu tư xây dựng hạ tầng mở rộng diện tích nuôi tôm xuất khẩu tại các xã Nghi Thái 45 ha, Nghi Hợp 40 ha, Nghi Yên 20 ha, xây dựng vùng nuôi cá phi xuất khẩu đơn tính tại Nghi Tiến 15 ha, Nghi Đồng 30 ha. Việc đầu tư xây dựng hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng tạo năng suất cao cho thu nhập bình quân từ 50-100 triệu đồng/ha/năm.

d. Về phát triển kinh tế trang trại

Tỉnh và huyện đã có những chính sách hỗ trợ, tạo động lực cho ngành chăn nuôi phát triển đạt hiệu quả kinh tế cao. Huyện đã tổ chức khảo sát và quy hoạch dồn điền đổi thửa đảm bảo phát triển kinh tế trang trại có tính chất bền vững và không ảnh hưởng đến ô nhiễm môi trường.

Tổng số trang trại hiện có trên địa bàn huyện 89 trang trại. Trong đó chăn nuôi 39 trang trại; nuôi trồng thủy sản 45 trang trại (Quy mô 1 ha trở lên) và 5 trang trại tổng hợp. Có 4 trang trại được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại. Số trang trại được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất là 3 trang trại.

Nhiều hộ nông dân dám nghĩ dám làm, mạnh dạn đầu tư hàng trăm triệu đồng để xây dựng các loại trang trại: Như trang trại chăn nuôi lợn, bò, gà, NTTS và trồng nhiều loại cây ăn quả đặc sản... đạt mức thu nhập bình quân từ 40 - 50 triệu đồng trở lên.

Để phát triển trang trại có tính bền vững một số chủ trang trại bước đầu sản xuất theo quy mô nhỏ vừa làm, vừa học hỏi, đúc rút kinh nghiệm, nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và mở rộng quy mô sang sản xuất hàng hoá.

Phát triển trang trại đã giúp chuyển hàng chục ha lúa trũng sâu cho năng suất thấp bấp bênh và ao hồ, đầm bỏ hoang trở thành những trang trại VAC với tôm sú, tôm he, lợn siêu nạc, gà công nghiệp và cây ăn quả đặc sản tập trung chủ yếu ở Nghi Xuân, Nghi Hợp, Nghi Xá, Nghi Quang, Nghi Thái, Nghi Diên, Nghi Công Bắc, Nghi Yên.

2.2. Ngành công nghiệp - xây dựng

2.2.1. Tăng trưởng và cơ cấu

Giai đoạn 2001 - 2008 ngành công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng trưởng nhanh. Giá trị sản xuất (giá 94) tăng từ 177 tỷ đồng năm 2000 lên 370 tỷ đồng vào năm 2005 và 656 tỷ đồng vào năm 2008. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngành công nghiệp - xây dựng giai đoạn 2001 - 2005 đạt 19,15%, giai đoạn 2006 - 2008 đạt 20,3% và giai đoạn 2006 - 2010 ước đạt 20,6%.

Năm 2000, tỷ trọng CN-XD chiếm 19,7%, năm 2007 tỷ trọng CN-XD chiếm 30,6% trong cơ cấu kinh tế. Trong đó CN-TTCN năm 2000 chiếm tỷ trọng 11,7%, năm 2007 chiếm tỷ trọng 15,5%.

2.2.2. Phát triển một số ngành và cụm công nghiệp chủ yếu.

a. Sản xuất vật liệu xây dựng

Công nghiệp khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng tăng nhanh trong giai đoạn 2001 - 2005, khai thác đá xây dựng chủ yếu ở các xã Nghi Lâm, Nghi Vạn, Nghi Yên, đến năm 2007 sản lượng khai thác đạt hơn 43.000m3; gạch nung được sản xuất ở Nghi Hưng, Nghi Hoa, Nghi Vạn và một số xã như Nghi Trung, Nghi Diên, Nghi Lâm,... đạt 42,7 triệu viên,...do các Công ty cổ phần và doanh nghiệp đóng trên địa bàn thực hiện.

b. Chế biến nông - lâm - thuỷ sản

Công nghiệp chế biến được duy trì và ngày càng được mở rộng, sản phẩm phong phú, góp phần quan trọng vào tăng trưởng ngành công nghiệp nói riêng và tăng trưởng của huyện nói chung. Một số sản phẩm chủ lực đã được hình thành và có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, như sản phẩm của nhà máy chế biến đông lạnh Hải An ( KCN Nam Cấm) năm 2007 với 385 tấn sản phẩm và doanh thu đạt 6,6 tỷ đồng; chế biến nước mắm ở Nghi Thiết, Nghi Xuân; chế biến thức ăn gia súc ở nhà máy chế biến thức ăn gia súc Con Heo Vàng (KCN Nam Cấm) năm 2007 sản lượng 7.100 tấn tương ứng doanh thu 63 tỷ đồng; chế biến nguyên liệu giấy hơn 33 ngàn tấn tương ứng doanh thu 53,1 tỷ đồng.

c. Phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề

Làng nghề phát triển tương đối nhanh, đặc biệt là nghề mây tre đan thủ công mỹ nghệ. Năm 2000 có 02 làng ở Nghi Phong và Nghi Thiết, đến năm 2008 đã có 16 làng, trong đó 14 làng đã được UBND tỉnh công nhận làng nghề TTCN, có 13 làng nghề mây tre đan xuất khẩu và 1 làng nghề đóng tàu thuyền, gồm xã Nghi Thái có 8 làng nghề, xã Nghi Phong có 4 làng Nghề, xã Nghi Thiết và Phúc Thọ mỗi xã có 1 làng nghề. Số lao động của các làng nghề hiện có 5.107 lao động, tổng giá trị sản xuất đạt 28,5 tỷ đồng.

Các cơ chế chính sách đã khuyến khích, phát triển tiểu thủ công nghiệp (TTCN) và làng nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Cơ sở vật chất và hạ tầng các làng nghề được tỉnh, huyện quan tâm đầu tư nên cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

d. Phát triển các khu công nghiệp

Khu công nghiệp tỉnh.

Khu công nghiệp Nam Cấm với quy mô diện tích hơn 327,83 ha, chủ yếu đầu tư các ngành như cán thép, luyện kim, chế tạo cơ khí, sản xuất hoá chất, phân bón, chế biến gỗ, bột đá siêu mịn, chế biến hải sản, thức ăn gia súc và sản xuất hàng tiêu dùng khác.

Đến tháng 10/2008 đã cấp phép đầu tư cho 30 dự án, với tổng số vốn 1.767 tỷ đồng và 24,6 triệu USD. Trong đó, tính đến cuối năm 2007 đã cấp phép đầu tư cho 22 dự án với tổng số vốn đăng ký 585 tỷ đồng và 11,7 triệu USD, diện tích thuê đất 68,86 ha (các dự án cấp phép còn hiệu lực). Trong đó 7 dự án đã đi vào hoạt động với doanh thu đạt gần 142 tỷ đồng (tăng 1,63 lần so với năm 2005), trong đó giá trị xuất khẩu đạt gần 54 tỷ đồng (tăng 1,6 lần so với năm 2005), nộp ngân sách trên 4,4 tỷ đồng (tăng 2,9 lần so với năm 2005), tạo việc làm cho 372 lao động (chưa kể lao động thời vụ) có thu nhập ổn định 1,3 triệu đồng/tháng.

Khu công nghiệp huyện.

Hai khu công nghiệp huyện quản lý, năm 2006 đã được UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết KCN Trường Thạch với diện tích quy hoạch là 17 ha và KCN Đồng Trộ Nghi Phong với diện tích là 19 ha. Các ngành nghề khuyến khích đầu tư là sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất sản phẩm cơ khí, dệt, may, chế biến lâm sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, hàng mộc, sản xuất các mặt hàng tiêu dùng và xuất khẩu có mức độ ô nhiễm nhẹ.

Đến nay khu công nghiệp Trường Thạch có nhà máy sản xuất đá ốp lát và nhà máy sản xuất chế tạo sản phẩm cơ khí xây dựng đã bắt đầu đi vào hoạt động; các nhà máy sản xuất chăn ga gối đệm, nhà máy sản xuất nước tinh khiết và nhà máy sản xuất khí ga hoá lỏng đã hoàn thành công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đang đầu tư xây dựng.

Tại xã Nghi Khánh và Nghi Hợp gồm có 4 nhà máy đang hoạt động có hiệu quả: Nhà máy sản xuất bột đá siêu mịn, Nhà máy sản xuất gỗ dăm, Nhà máy sản xuất gỗ ván ép với sản lượng năm 2007 đạt từ 2400m3, Nhà máy sản xuất giấy bao bì sản lượng năm 2007 đạt từ 1000 tấn. Tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho 185 công nhân.

Để đảm bảo quy hoạch và vệ sinh môi trường huyện đã yêu cầu các doanh nghiệp chuyển một phần của 2 nhà máy sản xuất giấy bao bì và Nhà máy sản xuất gỗ ép vào Khu công nghiệp Nam Cấm.

2.3. Ngành dịch vụ

2.3.1. Tăng trưởng và cơ cấu

Giá trị sản xuất của ngành Dịch vụ hàng năm đã có những tăng trưởng đáng kể như năm 2000 đạt 131 tỷ đồng, năm 2005 đạt 186 tỷ đồng năm 2006 đạt 239 tỷ đồng và năm 2008 đạt 389 tỷ đồng. Tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 tăng 15,95%, giai đoạn 2006 - 2008 đạt 17,64% và ước thực hiện giai đoạn 2006 - 2010 là 17,04%.

Năm 2000, tỷ trọng các ngành dịch vụ chiếm 22,1%, năm 2005 chiếm 27,4% và năm 2008 chiếm 30,9% trong cơ cấu kinh tế.

2.3.2. Thực trạng phát triển một số ngành chủ yếu

a. Thương mại

Thương mại của huyện trong giai đoạn 2001 - 2007 đã có những đóng góp đáng kể trong việc thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá. đặc biệt trong những năm gần đây ngành thương mại của huyện đã có bước tăng trưởng đáng kể, phát triển tăng cả về số lượng hàng hoá và số lượng cơ sở, các loại hình dịch vụ đa dạng và phong phú, góp phần bình ổn giá cả, phục vụ tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và tiêu thụ sản phẩm. Hàng năm đóng góp một phần đáng kể cho ngân sách và góp phần đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động có thu nhập ổn định.

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tăng nhanh, năm 2000 mới có 6 doanh nghiệp và 1.920 hộ kinh doanh cá thể, đến năm 2007 có 71 doanh nghiệp và 2.360 hộ kinh doanh cá thể. Đã tạo công việc làm và thu nhập ổn định cho gần 20.000 lao động

Hệ thống chợ được củng cố và phát triển, hiện có 24/30 xã, thị trấn đã có chợ. Riêng chợ đầu mối nông sản Miền Trung được xây dựng với quy mô 7 ha với tổng vốn đầu tư là 95 tỷ đồng.

Hệ thống kinh doanh xăng dầu trên địa bàn huyện năm 2008 có 27 cửa hàng, đáp ứng cơ bản nhu cầu của thị trường.

Kinh doanh dịch vụ được mở rộng, hàng hoá đa dạng, phong phú. Các loại hình dịch vụ này đã góp phần bình ổn giá cả, phục vụ tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng, giải quyết việc làm cho lao động đặc biệt là lao động vùng nông thôn.

b. Dịch vụ du lịch

Sản phẩm du lịch tương đối đa dạng (sinh thái biển, làng nghề, di tích lịch sử văn hóa,...). Du lịch chưa được đầu tư xây dựng và khai thác hết tiềm năng hiện có. Năm 2004 UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch Khu du lịch sinh thái biển Nghi Lộc có quy mô là 1.539 ha, thuộc địa bàn 03 xã Nghi Yên, Nghi Tiến, Nghi Thiết.

Trong đó, dự án Khu du lịch Bãi Lữ Nghi Yên đã được triển khai năm 2005 với quy mô diện tích là 52 ha, tổng mức đầu tư cả 2 giai đoạn là 800 tỷ đồng, hiện nay đã hoàn thành đưa vào khai thác với 164 phòng nghỉ cao cấp. Ngoài khu du lịch Bãi Lữ còn có 5 nhà nghỉ doanh thu hàng năm 2007 đạt gần 0,8 tỷ đồng.

c. Dịch vụ bưu chính viễn thông

Trong giai đoạn 2001 - 2007 doanh thu dịch vụ bưu chính tăng bình quân 8,5%/năm và 18%/năm đối với viễn thông. Doanh thu năm 2007 bưu chính đạt 2,54 tỷ đồng, viễn thông đạt 48,18 tỷ đồng.

Các dịch vụ bưu chính, viễn thông cơ bản đáp ứng nhu cầu của người dân. Đến nay 28/30 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá, đạt tỷ lệ 93,3%; 100% số xã có báo đọc trong ngày; số thuê bao cố định đạt 9,3 máy/100 dân.

d. Dịch vụ tài chính, ngân hàng

Các tổ chức tín dụng đóng trên địa bàn huyện gồm­ ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn và 5 chi nhánh cấp 3; Ngân hàng chính sách; 3 hợp tác xã tín dụng. Hoạt động của các tổ chức tín dụng trải rộng trên địa bàn, đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư cho các doanh nghiệp và dân cư. Số dư nợ đến cuối năm 2007 đạt 285 tỷ đồng, trong đó ngân hàng chính sách đã giải quyết cho học sinh, sinh viên nghèo vay gần 10 tỷ đồng.

2.4. Các lĩnh vực xã hội

2.4.1. Giáo dục - đào tạo

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển cả về quy mô và chất lượng. Đến năm 2007, toàn huyện đã khép kín được hệ thống trường lớp, hiện có 96 trường học (30 trường mầm non, 32 trường tiểu học, 28 trường THCS, 05 trường THPT công lập và 01 trường THPT dân lập); 1 trung tâm GDTX, 1 trung tâm bồi dưỡng chính trị, 1 trung tâm hướng nghiệp dạy nghề và 30 trung tâm học tập cộng đồng ở 30 xã thị trấn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu dạy học.

Huyện đã được Bộ giáo dục kiểm tra công nhận phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS từ năm 2003, thực hiện tốt chương trình xoá mù chữ. Trung tâm giáo dục thường xuyên và Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện liên kết với các trường Đại học mở nhiều lớp Đại học tại chức để bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học cho đội ngũ công chức cấp huyện, cấp xã và thị trấn.

Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đến năm 2007 có trình độ đạt chuẩn là 100%. Đội ngũ giáo viên cơ bản đủ về số lượng, tỷ lệ giáo viên mầm non đạt chuẩn và trên chuẩn đạt 78,13%; Tiểu học đạt 99,56%; THCS đạt 99,44%. Thực hiện Đề án xây dựng trường Đạt chuẩn Quốc gia, đến hết năm 2008 đã có 27 trường chuẩn Quốc gia (4 trường MN; 19 trường TH; 02 trường THCS và Trường THPT Nghi Lộc 1). Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, tỷ lệ giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi đều tăng.

Tuy nhiên, lĩnh vực giáo dục vẫn còn một số tồn tại. Tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia ở các bậc học còn chậm. Giáo dục chủ yếu phát triển theo chiều rộng, về chiều sâu chưa đạt yêu cầu, chất lượng mũi nhọn đạt thấp. Các điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện không đồng bộ. Đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu thực tế về cả số lượng, chất lượng và loại hình ngành nghề.

2.4.2. Y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, công tác dân số, gia đình và trẻ em đã được nâng lên. Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở được củng cố. Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng triển khai thực hiện. Đề án nâng cao y đức bước đầu thực hiện có hiệu quả.

Các cơ sở y tế được xây dựng mới và nâng cấp, đến nay 30/30 số xã, thị trấn đã có trạm y tế kiên cố và bán kiên cố, 28/30 xã, thị trấn có bác sỹ; có 22/30 xã, thị đạt chuẩn quốc gia về y tế chiếm 73%; số giường bệnh không kể giường trạm y tế xã/vạn dân đạt 5,7 giường (tỉnh 13,3 giường); Tỷ lệ bác sĩ trên 1 vạn dân năm 2007 đạt 3,1 bác sĩ; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm tương ứng từ 36% năm 2000 xuống 23,5% năm 2007; trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin phòng bệnh hàng năm đạt 100%. Các chương trình y tế quốc gia thực hiện có hiệu quả.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị được tăng cường nhưng chưa đáp ứng được so với yêu cầu chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, chưa có bác sỹ chuyên khoa sâu và cơ cấu chuyên môn chưa hợp lý.

2.4.3. Văn hoá, thể thao

Phát triển ngành văn hoá - thông tin theo hướng gắn với các vấn đề xã hội, các nhiệm vụ phát triển kinh tế trọng tâm. Chất lượng và đời sống văn hoá của nhân dân được nâng lên. Đẩy mạnh triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Hệ thống thiết chế văn hoá - thông tin - thể thao từng bước được các ngành, các cấp chăm lo xây dựng, tạo điều kiện cho nhân dân có điều kiện tham gia ngày càng nhiều hơn.

Các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, quê hương được quan tâm bảo tồn và phát huy. Củng cố, duy trì tốt việc tổ chức Lễ hội Đền Nguyễn Xí ở xã Nghi Hợp, khôi phục Lễ Hội Nhà thờ Phạm Nguyễn Du ở xã Nghi Xuân…

Hoạt động thông tin tuyên truyền của Đài phát thanh truyền hình hoạt động có hiệu quả, bám sát nhiệm vụ chính trị, các chủ trương chính sách của đảng và nhà nước, thực hiện tuyên truyền, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị đã được đầu tư nâng cấp. Đến 2007, xã Nghi Lâm đã được công nhận đạt chuẩn văn hoá; 180 khối phố, 69 làng và 2 dòng họ đạt chuẩn văn hoá; ngoài Trung tâm VH-TT-TT huyện; 27/30 xã, thị trấn có nhà văn hoá; 100% xã, thị trấn đều có sân bóng đá, bóng chuyền.

2.4.5. Quốc phòng - An ninh

Quốc phòng - an ninh được tăng cường, đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả đề án “3 yên, 3 giảm".

Đảm bảo an ninh nông thôn, an ninh vùng giáo. Năm 2007, tổ chức thành công 1 lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh cho các chức việc tôn giáo và đưa 11/23 chức sắc tôn giáo đi bồi dưỡng kiến thức quốc phòng tại tỉnh đạt kết quả tốt.

Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma túy có hiệu quả. Tai nạn giao thông từng bước hạn chế, tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện NQ 32 của Chính phủ có hiệu quả.

Công tác thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân được quan tâm thực hiện, hạn chế đơn thư vượt cấp, khiếu nại đông người; Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật được tăng cường; Thực hiện tốt công tác thi hành án dân sự theo phân cấp, chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được nâng lên.

Tuy nhiên, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma tuý, cướp giật, trộm cắp tài sản và an toàn giao thông còn diễn biến phức tạp. Các yếu tố tiềm ẩn về gây mất ổn định trong quốc phòng - an ninh còn lớn.

2.4.6. Khoa học công nghệ

Hoạt động khoa học và công nghệ đã hướng vào mục tiêu phục vụ sản xuất và đời sống, nhất là các lĩnh vực Nông - Lâm - Thuỷ sản. Nhiều dự án chuyển giao công nghệ đã được thực hiện hiệu quả như: Phát triển đàn bò lai, phát triển tôm giống, dự án trồng nấm tại Nghi Xá...

Tỉnh, huyện đã có các cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ như đưa giống Lúa lai, Lạc giống mới vào canh tác; phát triển đàn bò thịt, bò lai sind, lợn siêu nạc và trồng cỏ chăn nuôi bò. Các mô hình chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, xây dựng cánh đồng thu nhập cao được triển khai thành công.

2.4.7. Môi trường sinh thái

Công tác khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng được quan tâm, chương trình phát triển kinh tế rừng đã được thực hiện trên địa bàn các xã vùng tây của huyện, góp phần cải thiện môi trường sinh thái. Tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 15% năm 1997 lên 21,4% năm 2007. Công tác giao đất, giao rừng, quy hoạch 3 loại rừng được làm tốt. Nhờ vậy, thu nhập từ nghề rừng được nâng lên.

Toàn huyện đã xây dựng được 75 gara tập kết rác thải, thành lập 368 tổ thu gom rác dân lập, năm 2006 - 2007 đã xử lý gần 17.000m3 rác thải sinh hoạt. Hợp đồng với Công ty môi trường đô thị Cửa Lò vận chuyển rác thải về bãi rác Thị xã Cửa Lò để xử lý.

Kinh phí chi cho hoạt động môi trường gần 3,17 tỷ đồng (trong đó ngân sách huyện chi 0,77 tỷ đồng, ngân sách tỉnh chi 1,4 tỷ đồng và dân đóng góp gần 1 tỷ đồng) để xử lý rác thải.

Một số nơi vẫn còn tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là trên một số tuyến đường, các điểm dân cư tập trung và một số làng nghề.

3. Phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị

3.1. Giao thông

Việc quy hoạch và triển khai thực hiện xây dựng mạng lưới giao thông đường bộ (bao gồm các tuyến Quốc lộ, tỉnh lộ, đường liên huyện, liên xã và các tuyến giao thông liên xóm), trong giai đoạn 2001 - 2007 thực hiện đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Tuyến quốc lộ 1A, quốc lộ 46 đi qua huyện đã được Trung ương, tỉnh đầu tư nâng cấp và các tuyến tỉnh lộ 534,535 được tỉnh đầu tư nâng cấp, mở rộng tạo thành các tuyến giao thông huyết mạch trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

Xây dựng mới hơn 300 km đường nhựa, 448 km đường bê tông, 30/30 xã, thị trấn có đường nhựa đến trung tâm, các tuyến đường giao thông quan trọng hoàn thành đưa vào sử dụng như: Đường TL534 - Nghi Công; TL534 - Lâm - Văn - Kiều; TL534 - Phương - Hưng - Đồng; Đường Chợ Sơn - Phúc Thọ; Đường Nghi Đức - Nghi Thiết; và các tuyến giao thông liên xã, liên xóm... được đầu tư xây dựng từ cơ chế hỗ trợ của huyện, xã và nguồn nội lực của nhân dân đã tạo cho huyện có hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh.

Xây dựng mới, kiên cố hoá 24 trụ sở làm việc huyện, xã, thị trấn; 75 nhà học cao tầng với 840 phòng học các cấp; 410 nhà văn hoá xóm; 30 trạm y tế các xã, thị trấn.

Tổng mức đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên địa bàn huyện đạt trong giai đoạn đạt 641,4 tỷ đồng. Trong đó nguồn vốn đầu tư của nước ngoài 37,3 tỷ đồng, Ngân sách Tỉnh đầu tư 64 tỷ đồng, Ngân sách huyện 117 tỷ đồng, Ngân sách xã 301,5 tỷ đồng và nhân dân đóng góp 121 tỷ đồng.

Mạng lưới giao thông đã được đầu tư xây dựng cơ bản đáp ứng được nhu cầu đi lại và phục vụ giao thương phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, cầu cống đã xuống cấp, các tuyến tỉnh lộ 534, 535 mặc dù đã được đầu tư nhưng chưa được nâng cấp, mở rộng.

3.2. Thuỷ lợi

Toàn huyện có 11 hồ chứa nước, 18 đập chứa nước với trữ lượng trên 21 triệu m3, 45 trạm bơm điện, trên 450 km kênh mương các loại và có 33,2 km đê sông và đê biển (đê sông 31,3km, đê biển 1,9km). Trong đó hơn 400 Km kênh mương các loại được kiên cố chủ yếu là nguồn vốn huy động sức dân, diện tích tưới tiêu chủ động từ 4.500 ha (đạt 25,5 %) năm 2000 tăng lên 6.300 ha (đạt 42,3 %) năm 2007.

Kiên cố hóa 388 kênh mương bê tông, nâng cấp xây dựng được 22 trạm bơm, 146 trạm biến áp và 467 km đường dây 0,4 kv và nâng cấp xây dựng 2 chợ nông thôn sạch đẹp.

Dự án tiêu úng vùng màu đã xây dựng được 8/9 tuyến kênh tiêu chính gồm các kênh Rào Tr­ường, kênh Nghi Đức, kênh Tây Nghi Phong, kênh Đông Nghi Phong, kênh cầu Lùng, Kênh cầu Tây, kênh Nghi Xuân, kênh Phúc Thọ và 26/40 kênh tiêu cấp 1 đã được thi công.

Về cơ bản các công trình hồ đập, trạm bơm đáp ứng yêu cầu sản xuất tối thiểu của sản xuất nông nghiệp. Song các tuyến kênh cấp 1, cấp 2 chưa được duy tu, nạo vét, nâng cấp hàng năm, hệ thống tiêu úng vùng màu đầu tư dàn trải nhiều năm, do đó các xã vùng màu gặp khó khăn trong thoát nước mùa mưa lũ.

3.3. Hệ thống cấp điện

Hệ thống cấp điện của Nghi Lộc nằm trong quy hoạch và mối quan hệ với hệ thống điện của Thành phố Vinh và của cả vùng.

Tuyến đường dây cao thế 500KV đi qua huyện, tuyến 220KV Nghi Sơn - Hưng Đông; tuyến trung áp 35KV và 10KV.

Trạm điện 220KV với công suất 2 x 250MVA Hưng Đông cấp điện cho huyện qua trạm 220/110/10 KV, quy mô trạm 2x125MVA. Trong đó, trạm 110/35/10KV, quy mô 2 x 25 MVA điện áp 35KV cấp cho phía tây và trạm 35/10, quy mô 2 x 1800KVA điện áp 10KV cấp cho Quán hành và phía Đông.

Hệ thống cấp điện cơ bản đáp ứng được nhu cầu điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Do nhu cầu sử dụng điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ngày một tăng, trạm biến áp còn thiếu, mạng lưới điện hạ thế nâng cấp chưa đồng bộ nên dẫn đến mất an toàn, gây tổn thất và làm cho giá điện tăng.

3.4. Nước sạch và vệ sinh môi trường

Đến năm 2007, tỷ lệ dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 72%, việc xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt cho người dân được quan tâm. Đầu tư xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn tại xã Nghi Lâm, một số công trình cấp nước sinh hoạt ở các xã Nghi Thiết, Nghi Tiến, Nghi Công Bắc, Nghi Mỹ; nhà máy nước Nghi Diên và hệ thống cấp nước sinh hoạt Thị trấn Quán hành thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và VSMT nông thôn và đóng góp của nhân dân và một số dự án nhỏ lẻ khác.

Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm, công tác kiểm tra được thực hiện thường xuyên, bên cạnh đó đẩy mạnh việc giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường. Xã hội hoá công tác thu gom, xử lý rác thải, di dời các cơ sở sản xuất vào khu công nghiệp nhằm bảo đảm các điều kiện xử lý môi trường; Quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo quy định của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn; Tập trung xử lý môi trường ở các làng nghề, vùng nuôi trồng thuỷ sản và khu vực chăn nuôi tập trung Xây dựng kế hoạch dự phòng, xử lý khi có sự cố về môi trường.

3.5. Hệ thống bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin

3.5.1. Bưu chính, viễn thông

Hệ thống hạ tầng của ngành được đầu tư đồng bộ theo hướng hiện đại, chất lượng dịch vụ được nâng cao, đáp ứng yêu cầu của người dân; Hệ thống dịch vụ điện thoại được phủ sóng đến tất cả trung tâm các xã. Đến năm 2007, 100% số xã có điện thoại, đạt 9,3 máy điện thoại/100 dân (không tính thuê bao di động). Số thuê bao Internet tăng nhanh trong vài năm gần đây, năm 2007 số thuê bao Internet đạt 334 thuê bao.

3.5.2. Công nghệ thông tin

Việc triển khai áp dụng các ứng dụng công nghệ thông tin vào chỉ đạo sản xuất kinh doanh được coi trọng. Năm 2007, huyện lập dự án đã xây dựng hoàn thành hệ thống mạng Lan, kết nối internet trong các phòng ban tại cơ quan UBND huyện, tiếp tục triển khai xây dựng website huyện Nghi Lộc để giới thiệu, chỉ đạo, điều hành, tuyên truyền, quảng cáo, theo đó là phục vụ sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện.

Tuy nhiên, hạ tầng công nghệ thông tin nhìn chung còn yếu về quy mô, chất lượng; hệ thống cơ sở dữ liệu còn manh mún, nghèo nàn và thiếu quan tâm cập nhật; Nguồn nhân lực để phát triển công nghệ thông tin còn hạn chế về số lượng và chất lượng. Công tác đào tạo, thu hút nhân lực chưa được quan tâm đúng mức.

3.6. Thu chi ngân sách

Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh để nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế và các biện pháp chống thất thu thuế nên tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện tăng nhanh qua các năm. Năm 2001 thu ngân sách đạt 5,3 tỷ đồng, đến năm 2005 đạt 25,3 tỷ đồng và năm 2007 đạt 52,2 tỷ đồng. Đẩy mạnh thực hiện công tác quản lý thu chi ngân sách qua kho bạc nhà nước.

Tuy nhiên, số thu ngân sách trên địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nguồn thu ngân sách chưa vững chắc, số thu từ tiền sử dụng đất còn chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng thu ngân sách.

B. CÁC THÀNH TỰU CHỦ YẾU, NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ

1. Các thành tựu chủ yếu

- Kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá và bền vững. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng Công nghiệp - dịch vụ. Các ngành Nông - Lâm - Thuỷ sản, công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ có nhiều chuyển biến tích cực.

- Kết cấu hạ tầng trong những năm qua phát triển khá nhanh như: đường GTNT; xây dựng trụ sở làm việc, trường học cao tầng, trạm y tế xã, nhà văn hoá; kênh mương bê tông,...

- Thu ngân sách tăng khá. Chi ngân sách đảm bảo đúng nhu cầu thiết yếu, tiết kiệm và ưu tiên cho đầu tư phát triển.

- Giáo dục và đào tạo có bước phát triển; đội ngũ quản lý, giáo viên được tăng cường. Chất lượng đội ngũ quản lý và giáo viên được nâng cao.

- Văn hoá xã hội tiến bộ trên nhiều mặt như: Xoá đói giảm nghèo; nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên và thực hiện tốt công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội.

- Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, tạo thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.

2. Nguyên nhân đạt được

- Huyện nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các Bộ, ngành trung ương; của Thường trực tỉnh uỷ - HĐND-UBND tỉnh và các Sở ban ngành cấp tỉnh.

- Định hướng, chỉ đạo sát thực của Thường trực huyện uỷ, HĐND và sự điều hành trực tiếp của UBND huyện. Nhiều chủ trương của Đảng và nhà nước, của tỉnh đã được cụ thể hoá thành các Nghị quyết và các cơ chế chính sách phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

- Phát huy nội lực của các thành phần kinh tế, của nhân dân để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.

- Đoàn kết, thống nhất cao trong hệ thống chính trị của huyện.

3. Những tồn tại, hạn chế

- Khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư phát triển và hiệu quả đầu tư chưa cao. Tỷ lệ tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp.

- Kết cấu hạ tầng tuy được cải thiện nhiều, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển thực tế. Nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là ngân sách Nhà nước hàng năm chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Số doanh nghiệp có quy mô lớn trên địa bàn ít, hầu hết quy mô vừa và nhỏ, chưa tạo nhiều giá trị tăng thêm cho nền kinh tế và việc làm cho người lao động.

- Chất lượng giáo dục mới phát triển chiều rộng về chiều sâu chưa đạt yêu cầu, chất lượng mũi nhọn đạt thấp, công tác xã hội hóa giáo dục và công tác quản lý giáo dục chậm đổi mới.

- Khoa học và công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

- Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

- Sự hợp tác phát triển với các địa phương trong vùng còn hạn chế, chưa đề xuất được những cơ chế, chính sách đồng bộ, mang tính đột phá cho sự phát triển chung.

- Năng lực chỉ đạo, điều hành của cấp uỷ Đảng, chính quyền một số cơ sở chưa đáp ứng được theo yêu cầu phát triển. Công tác chỉ đạo, kiểm tra thực hiện các chủ trương, đề án thiếu quyết liệt. Việc cụ thể hoá và triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách, chủ trương ở một số cơ sở có kết quả chưa cao.

4. Lợi thế và thách thức

4.1. Lợi thế

- Có vị trí thuận lợi trong giao thương kinh tế, văn hoá với tỉnh, các địa phương phụ cận và các tỉnh trong nước, quốc tế bằng cả đường không, đường biển, đường bộ và đường sắt. Có 10 xã nằm trong Khu kinh tế Đông Nam.

- Là huyện có truyền thống cách mạng, năng động trong phát triển kinh tế, văn hoá; nguồn lao động dồi dào, cần cù chịu khó và nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn. Đội ngũ lao động nếu được qua đào tạo sẽ là nguồn động lực để phát triển kinh tế.

- Nằm phụ cận Thành phố Vinh - đô thị loại I - trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ, Thị xã du lịch Cửa Lò là các địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, kết hợp với Nghi Lộc tạo thành tam giác phát triển kinh tế, có sức lan toả và tạo điều kiện kích thích kinh tế - xã hội cùng phát triển.

- Được sự quan tâm của lãnh đạo UBND tỉnh và các Sở ban ngành.

- Kết cấu hạ tầng đã được đầu tư qua các năm trước nay đã bắt đầu phát huy hiệu quả; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng.

4.2. Thách thức

- Điểm xuất phát thấp, quy mô kinh tế còn hạn chế.

- Nguồn nhân lực tại chỗ chưa được qua đào tạo, số lượng lao động qua đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu, công nghệ sản xuất chưa tiên tiến, giá thành sản phẩm còn cao chưa tạo được thế mạnh để cạnh tranh trên thị trường.

- Tốc độ đô thị hoá cao, các khu công nghiệp, khu kinh tế mở rộng quy mô và phát triển diện tích đất sản xuất sẽ thu hẹp, dẫn đến một bộ phận không nhỏ nông dân mất đất không có việc làm.

- Sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh sẽ phải đương đầu với thách thức ô nhiễm môi trường.



 |  Đầu trang
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu