Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
CƠ CẤU TỔ CHỨC
Skip portletPortlet Menu
 
tiềm năng thanh chương
Skip portletPortlet Menu
 
THÔNG TIN CHUNG
Skip portletPortlet Menu
 
Văn hóa Thanh Chương
Skip portletPortlet Menu
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Đặc sản trên đất Thanh Chương xứ Nghệ đang dần khẳng định được thương hiệu (01/12/2017 09:26 AM)

Đến với Thanh chương chúng ta sẽ được thưởng thức những đặc sản dân dã mang đậm dấu ấn của miền quê .

1. Trám Thanh Chương

Chưa thấy tài liệu nào nói cây trám có mặt trên đất Thanh Chương từ lúc nào. Chỉ biết ở Thanh Chương có nhiều trám lắm, trám tập trung phần lớn ở vùng hữu ngạn sông Lam, mà chủ yếu là các xã Cát Văn, Thanh Nho.

Cây trám tiếng địa phương còn gọi là cây mui hay cây trám đen. Điều này phân biệt và khác với một số nơi còn gọi loại trám trắng, hay quả đèn, quả nến cũng là quả trám. Loại này khi chín vỏ có màu xanh pha vàng, vị hơi chua, ở Thanh Chương cũng có.

Trám thuộc loại cây thân gỗ, thường cao tới 30 - 40 m, có những cây lớn đường kính 2-3 người ôm không xuể, vỏ dày, chóng lớn. Những cây trám già cưa ra đem ngâm nước một thời gian để làm ván, gỗ khá tốt. Còn cây trám dại trong rừng, quả cũng ăn được, gọi là trám hồng.

Quả trám là đặc sản của dân Thanh Chương. Trám được chế biến bằng nhiều cách: om tươi, phơi khô, nấu mặn...

Không phải cây trám nào cũng cho quả ngon. Có loại bị sần (hăng đèn), có loại vị chát, có loại mỏng vỏ... Quả trám ngon là loại quả không sâu bệnh, có màu vỏ đen, có lớp màng mỏng như phấn trắng bên ngoài, dày cùi, lấy móng tay kháy lớp vỏ đen bên ngoài thì cùi có màu xanh pha vàng. Có những cây trám to, mỗi vụ cho ba, bốn tạ quả.

Trám om: Người ta đun nước sôi để nguội bớt đến mức nhất định. Khi mua trám, người ta thường hỏi chủ xem có cần nước nóng không. Vì có loại cần om trong nước nóng 80-85 độ, nhưng có loại chỉ cần 50-60 độ, trẻ mục đồng có khi nó ngậm trám, om ngay trong miệng vẫn chín mà(!). Đổ trám vào, sau ít phút, người nội trợ thăm xem nó chín chưa, quả nào mềm tức là đã chín. Nếu chín là chọn và bốc ra, không để nó ngâm lâu, dễ nát.

Để ăn với trám om, người ta thường có mấy món đi kèm: Mui - măng - quao - khế. Quả quao được nướng chín, cắt thành miếng nhỏ, măng chọn loại măng tre, cắt mỏng, luộc kỹ. Ngoài ra còn giá sống, rau thơm. Thường trám om được ăn với lá sài đất, ba giót, kể cả lá trám non.

Tất cả sẽ không ngon nếu không có món nước hãm, dân quê gọi là chẻo. Chẻo là vừng lạc cho vào nước tương ngon, bỏ thêm ít mật, mì chính, ớt. Nước hãm phải có vị vừa mặn, ngọt, vừa thơm, bùi, cay tùy thích.

Trám om cũng có thể bóc ra, xào mỡ, gia vị ít tỏi, muối, tiêu. Các cụ ngày xưa còn kỹ tính, chặt hạt trám, lấy phần nhân phía trong. Cái nhân ấy béo ngậy, phi với hành, mỡ rồi mới cho trám và gia vị vào, xào kỹ. Thứ này để ăn với cơm.

Trám om chín mềm rồi cũng có thể bỏ vào ít muối đun sôi cho ngấm đủ độ mặn là dùng ăn ngay được. Nếu nhiều, người ta có thể cho cả trám, cả nước ấy vào vại sành, để dùng dần trong cả năm. Chỉ cần dăm quả trám mặn ấy có thể ăn bát cơm sáng ngon lành.

Trám om xong, người ta cũng có thể bóc ra, đem phơi nắng. Khi đã khô, cất vào vại sành hoặc túi ni lông, dùng dần. Trước khi nấu, người ta ngâm trám vào nước hẩm trong vài chục phút. Có thể xào thứ trám khô ấy với thịt ba chỉ thì khi ăn, người ta thường thích ăn quả trám hơn miếng thịt.

Lại có cách rửa sạch trám, ráo nước thì bỏ vô vò tương, quả trám sẽ chín dần, vừa bùi, vừa mặn, để dùng quanh năm.

Khi người ta lo ngại về an toàn, vệ sinh thực phẩm thì quả trám Thanh Chương lại "lên ngôi". Trám là hàng sạch, quả sạch, dễ chế biến, khoái khẩu. Hiện nay Thanh Chương đã và đang chăm sóc, gìn giữ cây trám để giữ lại đặc sản có giá trị của quê hương, đồng thời phát triển theo hướng hàng hoá, đem giống trám ghép, cây thấp, dễ hái quả, năng suất cao, thích hợp với nhiều vùng đất để làm hàng hóa.

Thanh Chương có địa bàn rộng, đồi núi nhiều, rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi gà. Các loại gà kiến, gà cỏ, gà ri được nhân dân nuôi thả trên các triền đồi, tự kiếm ăn, thân gà nhỏ nhắn nhưng rắn chắc, thịt gà vừa trắng lại vừa thơm ngon, vừa dai lại vừa mềm có vị ngọt đậm đà.

Khi nền kinh tế thị trường phát triển, nhu cầu, thị hiếu của người dân ngày càng cao. ở Thanh Chương, nhiều hộ gia đình đã đầu tư vốn để phát triển trang trại nuôi gà công nghiệp, bán công nghiệp nhưng giống gà tự nhiên, cách nuôi truyền thống vẫn được duy trì.

2. Gà xáo Thanh Chương

Gà được nhiều người biết đến bởi những món ăn ngon được chế biến nhiều kiểu, vừa bổ dưỡng lại hấp dẫn, nào là gà luộc, rồi đến xào sả, gà quay, gà tần nhưng món gà nấu xáo là món ăn đặc trưng của mảnh đất vùng này. Gà nấu xáo Thanh Chương không chỉ nổi tiếng tại vùng quê mà còn đi nhiều miền đất nước. Người Thanh Chương xa quê, cả những người nơi khác đã từng thưởng thức thì luôn nhớ và mong có dịp được ghé về quê để được cảm nhận hương vị ưa thích gà xáo quê hương. Gà nấu xáo Thanh Chương còn được ghi vào thực đơn của những khách sạn nhà hàng ...

Con gà khi được làm sạch lông, mổ bụng, làm lòng như làm cỗ, người nội trợ chọn phần thịt, cắt thành miếng nhỏ, ướp với các loại gia vị muối tinh, mỳ chính, hạt tiêu, ớt quả (tươi và lát), hạt nêm, nghệ củ tươi (đập dập một lượng vừa phải, nếu nhiều quá sẽ hăng) vài chục phút cùng lá chanh, lá răm, lá mùi tàu. Riêng phần xương (trừ đùi, cánh), người ta băm, chứ không xay. Khi xương được băm thật kỹ rồi, cắt lá chanh, lá răm, lá đắng cay, mùi tàu, nhồi đều với các gia vị hành tăm, nghệ củ tươi, ớt quả, ớt tiêu, một ít muối tinh (không dùng nước mắm), mì chính, sau đó viên thành từng viên nhỏ. Băm xong xương, viên thành viên cũng là lúc thịt được ướp đến độ. Bắc chảo lên bếp, cho ít dầu ăn, phi hành tăm vàng thơm rồi cho số thịt gà đã ướp vào, xào kỹ cho thơm, săn lại, bỏ nước vào nấu tiếp. Đến lúc sôi, cho nhỏ lửa, thả số viên gà vào đun tiếp khoảng 10 phút nữa đến lúc gà chín. Khi sắp đưa nồi thịt ra, người ta xé một ít lá chanh, lá đắng cay cùng rau răm không cần cắt nhỏ cho dậy mùi, ta được nồi canh gà như ý.

3. Thính măng

Đây là món ăn rất giản dị, chất phác như con người Thanh An vậy, chỉ một ít măng tre, măng mai cần hoặc có thể măng cây giang, cây trúc điền cũng được, một ít gạo rang vàng làm thính, một ít lá nghệ, lá gấc, lá sắn chỉ bấy nhiêu thôi cũng đã làm nên một món ăn ngon và có thể nói là đặc sản của vùng.

Vị ngon của món ăn này là nhờ vào cây măng tươi, cứ chiều chiều khi người dân đi làm ở trang trại có mang về nhà ít cây măng mọc hoang ở trong rừng làm thính măng. Cây măng được bóc sạch, xắt mỏng đem rửa sạch rồi luộc chín, măng còn rất tươi vừa mới hái về nên rất ngọt.

Ngày xưa cuộc sống của người dân còn khổ cực nên món thính cũng chỉ nấu chay vậy thôi. Ngày nay, cuộc sống người dân cũng đã khấm khá hơn, nhu cầu ăn uống của người dân cũng cao hơn, người ta cho vào món thính măng có thể là thịt lợn nạc hay thịt chim cút nướng vàng thơm.

Món thính măng có vị thơm của gạo rang, của lá nghệ, lá sắn và rất mát, rất thích hợp với người có tỳ vị nóng.

* Nguyên liệu:

- Măng: 0,5kg

- Chim cút: 0,3kg

- Gạo tẻ rang vàng giã nhỏ: 0,1kg

- Bột nghệ, lá gấc, lá sắn

- 1 lít nước lã

- Mỡ nước, hành khô, mỳ chính, muối, tiêu

* Cách chế biến

- Chim cút làm sạch nướng cho vàng thơm sau đó băm nhỏ,

- Măng sửa sạch băm nhỏ,

 Cho mỡ vào xoong phi thơm hành, cho thịt chim vào đảo cho săn rồi cho măng vào đảo đều, nêm muối, tiêu, mỳ chính, cho nước vào đun sôi rồi cho gạo rang vào khuấy đều, đun vừa lửa cho nước sôi lại, cho lá nghệ, lá gấc, lá sắn vào múc ra ăn với cơm.

3. Tro om, tro muối

Quả tro om hay tro muối là món ăn đặc trưng và dân dã đối với mỗi người dân Thanh An. Cây tro mọc tự nhiên, trên các sườn đồi, trải đều trong toàn xã, thiên nhiên đã ban tặng cho người dân Thanh An loại đặc sản quý này. Không có ở đâu như đất Thanh An, cây tro lại mọc nhiều đến vậy, thổ nhưỡng và điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho cây tro phát triển.

Từ xa xưa cuộc sống của con người Thanh An rất nghèo nàn, trên bàn ăn của các gia đình mỗi bận cơm mà có đĩa tro muối hoặc om là đã sướng lắm rồi. Cứ mỗi mùa quả tro chín vào khoảng giữa tháng 11 âm lịch hàng năm, người dân lại hái quả tro xuống, chọn lựa quả ngon, không sâu rồi đem chà sạch vỏ sau đó om hoặc có thể muối để dành ăn dần, trời càng rét thì quả tro càng ngon: Béo ngậy và thịt quả càng vàng thơm.

Mỗi người con khi xa quê hương, khi nghĩ về quê nhà càng nhớ hơn những quả tro mẹ làm, mẹ rửa sạch, muối chín để cho con ăn, quả tro món ăn mộc mạc, dân dã nhưng chứa đầy tỉnh cảm của người mẹ dành cho gia đình và con cái mình. Sau đây xin giới thiệu với độc giả cách chế biến món tro muối và tro om như sau:

* Cách om quả tro

Trước hết phải chọn quả tro to, không bị sâu, chín vừa đủ độ sau đó chà sạch vỏ để ráo nước.

- Đun nước nóng khoảng 65oC - 75oC. Sau đó cho quả tro vào, đậy vung lại cho kín hơi sau khoảng 25 - 30 phút là tro chín mềm, có thể vớt ra tách hạt và ăn cùng với cơm, chấm ruốc chua hoặc nước mắm tỏi ớt.

* Cách muối tro:

* Nguyên liệu:

- Quả tro 3kg, muối 250g.

* Chế biến:

 Trước hết phải chọn quả tro to, không bị sâu, chín sau đó chà sạch vỏ để ráo nước.

- Đun sôi 1 lít nước, cho 150g muối vào quấy tan, gạn bỏ cặn, để nguội.

- Lót một lớp mía đã chẻ nhỏ xuống đáy vại (đã chuẩn bị sạch), tiếp đó cho một lớp muối, xếp tro lên, cứ 1 lớp tro một lớp muối (dùng số muối còn lại) tiếp tục cho đến hết, trên cùng rắc 1 lớp muối xong cài vỷ thật chặt sau đó đổ nước muối còn lại vào, dùng hòn nén nặng lên trên, lấy vải màn đậy lại, để nơi khô ráo, để khoảng 2-3 ngày đưa ra ăn với cơm.

Nguồn Lịch sử Đảng bộ Thanh Chương

 
 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
<<   <  1  2  >  >>  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu