Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
CƠ CẤU TỔ CHỨC
Skip portletPortlet Menu
 
tiềm năng thanh chương
Skip portletPortlet Menu
 
THÔNG TIN CHUNG
Skip portletPortlet Menu
 
Văn hóa Thanh Chương
Skip portletPortlet Menu
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thông báo Danh mục Các tuyến đường dự kiến đặt tên trên địa bàn thị trấn Thanh Chương (Có lý lịch danh nhân, danh từ, địa danh) (09/10/2020 03:57 PM)

 UBND TỈNH NGHỆ AN

HỘI ĐỒNG TƯ VẤN ĐẶT TÊN ĐƯỜNG

THỊ TRẤN THANH CHƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                                                                                                                    Nghệ An, ngày 25 tháng 11 năm 2020

 

DANH MỤC

Các tuyến đường dự kiến đặt tên trên địa bàn thị trấn Thanh Chương

(Có lý lịch danh nhân, danh từ, địa danh)

 

 

TT (1)

TT trên bản đồ (2)

 

Dự kiến tên đường

(3)

 

 

Trích ngang lý lịch danh nhân,

sự  kiện, địa danh (4)

 

Hiện trạng

(5)

 

Điểm

đầu

(6)

 

Điểm

cuối

(7)

Chiều

dài

(m)

(8)

 

Chiều rộng

hiện trạng (m)

(9)

Chiều rộng quy hoạch

(m)

(10)

Loại hình

(11)      

1

1

Nguyễn Sinh Cung

Nguyễn Sinh Cung (19-5 -1890 – 2-9- 1969)

Quê quán: Xã Kim Liên huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Nguyễn Sinh Cung là tên khai sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà Cách mạng, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước Việt Nam thế kỷ XX, một chiến sỹ Cộng sản quốc tế. Lúc còn nhỏ Nguyễn Sinh Cung đã theo cha mình là ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc lên Thanh Chương để dạy học. Tại Thanh Chương 3 cha con Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Sắc đã từng lưu lại tại nhà thờ họ Lê Kim ở làng Nguyệt Bổng. Mặc dù thời gian lưu lại ở làng Nguyệt Bổng không nhiều, nhưng trong âm thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhớ đến nơi này. Sau này, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ của đất nước, Bác cũng nhiều lần nhắc đến làng Nguyệt Bổng, xem như đó là một kỷ niệm đẹp gắn với thời niên thiếu cúa Bác.

Nhựa

Cổng chợ Đón

Nút giao tuyến 2 đường đi nhà máy sắn

900

24

Cổng chợ Đón

Lãnh tụ

2

2

Ngày 1 tháng 9

Ngày 1 tháng 9 năm 1930:

Ngày 1-9-1930 là Ngày truyền thống của Đảng bộ và Nhân dân Thanh Chương. Đây là dấu mốc quan trọng vủa huyện Thanh Chương trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931). Vào ngày 1-9-1930 toàn thể quần chúng nhân dân huyện Thanh Chương đã đứng lên biểu tình tiến về huyện đường mở đầu cho phong trào đấu tranh dành chính quyền ở các địa phương. Với cuộc biểu tình vĩ đại ngày 1-9-1930 và sự hình thành chính quyền Xô Viết điển hình ở hầu hết khắp các làng xã trong huyện. Thanh Chương đã trở thành phong trào Xô Viết đỉnh cao của Nghệ An. Năm 2000, Đảng bộ và nhân dân huyện Thanh Chương đã thống nhất lấy ngày 1-9 là ngày truyền thống của huyện.

Nhựa

Nút giao tuyến 2 đường đi nhà máy sắn

Chợ Dùng

1400

24

 

Sự kiện lịch sử ( cao trào Xô Viết ở huyện Thanh Chương cũng là Ngày truyền thống huyện)

3

3

Võ Thúc Đồng

Võ Thúc Đồng (1914-2007)

Quê quán: người xã Thanh Ngọc, Thanh Chương.

Sớm giác ngộ, hoạt động cách mạng tích cực, năm 1931, ông bị bắt và giam ở nhà lao Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Côn Đảo. Sau cách mạng tháng Tám ông làm Bí thư tỉnh ủy Kom Tum, Bí thư tỉnh ủy Quảng Bình, Chủ nhiệm chính trị QK4, Chính ủy mặt trận Trung Lào, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, Đại sứ đặc mạnh toàn quyền tại Liên Xô, Bộ trưởng, Bí thư Đảng đoàn Bộ Nông Nghiệp, Ủy viên BCH TW khóa IV, Đại biểu QH khóa 3, khóa 4. Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang, Huân chương Hữu nghị giữa các dân tộc (do Đảng và Nhà nước Liên Xô trao tặng), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Nhựa

Nhà Hiệp Mai QL46

Cầu Yên Thượng

3000

12

 

Danh nhân thời hiện đại ( Nhà chính trị)

4

4

Tôn Gia Tinh

Tôn Gia Tinh (1911-1997) 

 Quê quán: xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương; tham gia Đảng Tân Việt năm 1927, người chiến sỹ cộng sản trẻ tuổi, Bí thư đầu tiên của Huyện Đảng bộ Thanh Chương. Sau cách mạng tháng Tám Ông làm Trưởng ty thuế Quảng Nam, Chi cục trưởng Thuế vụ Nghệ An, Hiệu trưởng trường Tài chính Nghệ An.

Với những đóng góp to lớn cho cách mạng đã được Đảng và Nhà nước tôn vinh, tặng thưởng Huân chương độc lập hạng Ba, Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.

Nhựa

cổng UBND Huyện

Trung tâm chính trị

1080

18

 

Danh nhân thời hiện đại

(Bí thư huyện đâu tiên của huyện Thanh Chương)

5

5

Nguyễn Cảnh Chân

Nguyễn Cảnh Chân (1355 - 1409)

Quê quán:  xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Năm 1407 khi quân Minh xâm lược nước ta, ông phò giúp Trần Ngỗi lên ngôi vua, hiệu là Giản Định Đế, được vua giao chức vụ Đồng Trị khu mật tham mưu về quân sự. Trong những năm đầu kháng chiến chống quân Minh ông đã cùng với  Đặng Tất đánh thắng nhiều trận, thu phục được nhiều vùng đất từ Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Thanh Hóa,.. Giữa lúc cuộc trung hưng của nhà Trần đang trên đà phát triển thì Nguyễn Cảnh Chân bị gian thần Nguyễn Quỹ dèm pha tâu với vua, khiến vua Giản Định Đế ngờ vực và giết hại ông cùng với Đặng Tất vào tháng 2 năm 1409.

 

Nhựa

Ngã 3 Công An Huyện

Đê Đồng Văn

500

10

 

Danh nhân thời Hậu Trần

6

6

Tôn Thị Quế

Tôn Thị Quế (1902-1992)

Quê quán: xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương.

Tôn Thị Quế hay còn gọi là Tôn Thị Em, Yêm, sinh năm 1902, cha là Tôn Thúc Đích, mẹ là Nguyễn Thị Hảo, anh trai là Tôn Quang Phiệt. Sinh ra và lớn lên trong một  một gia đình có truyền thống yêu nước và khoa bảng, Tôn Thị Quế đã sớm giác ngộ cách mạng. Từ năm 1925 bà đã tham gia một số hoạt động trong Hội Phục Việt do anh trai làm Hội Trưởng. Năm 1927,  Tôn Thị Quế được kết nạp chính thức vào Đảng Tân Việt.  Đầu năm 1929, Bà được bầu vào Ban chấp hành huyện Đảng bộ Tân Việt Thanh Chương, sau đó được cử ra hoạt động tại Đảng Tân Việt Bắc Kỳ và được giao nhiệm vụ cấp dưỡng, in ấn truyền đơn và thông tin liên lạc cho Kỳ Bộ. Từ năm 1930 – 1931,  Tôn Thị Quế đã trở về Thanh Chương, tại quê hương Bà đã tham gia nhiều hoạt động như in ấn, rải truyền đơn, tổ chức cho chị em phụ nữ xuống đường biểu tình nhân ngày Quốc tế Lao động (1-5), tham gia thường vụ Huyện Ủy Thanh Chương, Tỉnh Ủy viên Tỉnh Ủy Nghệ An. Từ năm 1945 – 1964, Tôn Thị Quế đã đảm nhận nhiều chức vụ như: Đại biểu Quốc Hội khóa I, II; Bí thư Hội phụ nữ cứu quốc kiêm Bí thư Đảng Đoàn phụ nữ Tỉnh, phụ trách kiêm Bí Thư Đảng Đoàn liên khu IV; Vụ Phó Vụ xét xử, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,…

 Trong cuộc đời hoạt động của mình Bà Tôn Thị Quế đã vinh dự được nhận nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước: Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huân chương Sao Vàng, huân chương Hồ Chí Minh. 

Nhựa

Ngã 3 Công An Huyện

Đê Đồng Văn

500

10

 

Danh nhân thời Cận, hiện đại

(Tiền bối cách mạng)

7

7

Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai (1902-1980)

Quê quán: xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương.

Xuất thân trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước Đặng Thai Mai học tại trường Trung học Vinh rồi Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, tham gia Đảng Tân Việt khi đang học bị thực dân Pháp bắt và ở tù 3 năm. Ra tù trở lại dạy học ở Hà Nội, tham gia viết báo từ năm 1936.

Cách mạng tháng Tám thành công ông được giao làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Chủ tịch UB hành chính tỉnh Thanh Hóa, Hội trưởng Hội văn hóa Việt Nam, Giám đốc trường ĐH Văn hóa liên khu IV. Giám đốc Đại học dự bị và Sư phạm Liên khu IV.

Sau năm 1954 ông làm Chủ nhiệm khoa Ngữ văn ĐH tổng hợp, Chủ tịch Hội liên hiệp VHNT VN, Hiệu trưởng kiêm Chủ nhiệm khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội, Viện trưởng Viện văn học… Ông được Chính Phủ nước Cộng hòa XHCNVN tặng Huân chương Hồ Chí Minh và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học Nghệ thuật năm 1996.

Ông qua đời vào ngày 25-9 – 1984 hưởng thọ 78 tuổi.

Nhựa

Hồ xây

Cầu cứng Dùng

610

12

 

Danh nhân thời hiện đại (Nhà khoa học)

8

8

Đặng Thúc Hứa

Đặng Thúc Hứa (1870-1931)

Quê quán: xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương là chí sĩ cách mạng cận đại của Việt Nam. Ông tham gia phong trào Duy Tân do cụ Phan Bội Châu khởi xướng ngày từ năm 1905 và được giao trọng trách như: quyên góp tiền bạc cho thanh niên Đông Du xuất dương sang Nhật Bản, mua súng ủng hộ Nghĩa quân Yên Thế. Năm 1919, Đặng Thúc Hứa sang Xiêm xây dựng căn cứ Trại Cày làm địa điểm hoạt động cho Cách mạng Việt Nam. Trong quá trình hoạt động tại Thái Lan, ông đã tích cực tuyên truyền tư tưởng yêu nước cho kiều bào, tham gia thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội và Chi bộ Cộng sản Xiêm.

 Ông qua đời tại tỉnh Oudonne của Thái Lan năm 1931,  hưởng thọ 61 tuổi.

Nhựa và bê tông

Nhà ông Tố khối 1A

Bến vật liệu cũ khối 4A

650

7,5

 

Danh nhân  thời cận đại

9

9

Trần Tấn

Trần Tấn ( - 1874) 

Quê quán: xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương. Là một thủ lĩnh của phong trào Văn thân chống Pháp dưới thời Nguyễn.

Ông tứng làm Bang biện huyện Thanh Chương, năm 1874, chứng kiến thực dân Pháp xâm lược miền Bắc, ông đã cùng với học trờ của mình là Đặng Như Mai tập hợp các sĩ phu yêu nước như Trần Quang Cán, Nguyễn Huy Điển, Trương Quang Thủ lãnh đạo khởi nghĩa chống Pháp. Dưới danh nghĩa “ Bình Tây sát tả”, nhân dân khắp nơi đã vùng lên hưởng ứng phong trào. Nghĩa quân đã chiếm được gần như toàn bộ  tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh chỉ còn lại 2 thành Nghệ An và Diễn Châu. Tuy nhiên do sự truy lùng và đán áp của triều đình, cuộc khởi nghĩa đã thất bại. Trần Tấn rút quân về vùng Khăm Muộn ( Lào) sau đó lâm bệnh qua dời. Di tích Mộ và nền tế cờ Trần Tấn được xếp hạng là di tích lịch sử Quốc gia.

Nhựa

Bến vật liệu cũ khối 4A

650

7,5

 

 

Danh nhân  thời Nguyễn

10

10

Nguyễn Hữu Điển

Nguyễn Hữu Điển (1825 - ?) Quê quán: xã Thanh Văn, huyện Thanh Chương.

Năm 28 tuổi ông thi đậu Tiến sỹ, nay còn lưu giữ các trướng chúc mừng như Hộ Bộ Thượng thư Ngụy Khắc Tuần, Bộ Binh Tả Tham Tri kiên Quản Hà, Binh bộ tả tham Tri Kiên quản Hàn lâm Viễn Trương Quốc Dũng… Năm Tự Đức thứ 9, ông được lãnh chức Tri phủ Bình Giang (Hải Dương). Nhà thờ Nguyễn Hữu Điển đã được xếp hạng Di tích lịch sử Quốc gia.

Bê tông

Nhà anh Trường Hoa

Đi xã Đồng Văn

370

5,5

 

Danh nhân triều Nguyễn

11

11

Nguyễn Đệ

Nguyễn Đệ (1928-1998)

Quê quán: xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Tư lệnh Quân khu 9, ông còn có tên gọi khác là Ba Trung.

Bê tông

Nhà ông Thắng Hiên

Cây xăng Thương mại

1300

6

 

Danh nhân thời hiện đại

(Anh hùng LLVT)

12

12

Nguyễn Sỹ Sách

Nguyễn Sỹ Sách (1907-1929)

Quê quán: xã Thanh Lương, Thanh Chương là nhà cách mạng Việt Nam.

Nguyễn Sỹ Sách là một người thông minh, học giỏi, sớm có tư tưởng yêu nước tiến bộ, tham gia hoạt động cách mạng từ khi còn học sinh. Ông đã trở thành thành viên của Kỳ bộ Đảng Tân Việt ở Trung Kì, là nhười tổ chức thành lập Tỉnh bộ Tân Việt tại Hà Tĩnh. Năm 1927 ông được kết nạp vào tổ chức Thanh niên Cộng sản đoàn và sau đó trở thành lãnh tụ của Tổ chức Thanh Niên nằm trong Chấp hành Tổng bộ. Tổ chức Tân Việt cử ông vào cấp lãnh đạo Trung tương và trực tiếp làm Bí thư Kỳ bộ Trung Kỳ. Ông là người rất tích cực trong việc đấu tranh cho sự hợp nhất giữa 2 tổ chức Tân Việt và Thanh Niên. Tháng 8-1929, ông bị bắt và kết án tử hình sau đó thành chung thân và bị đày đi Lao Bảo. Ngày 19-12-1929, trong cuộc đấu tranh chống sự đày đoạcủa người tù chính trị quá dã man, ông đã hy sinh anh dũng trước mũi súng quân thu khi mới 25 tuổi. Di tích Lưu niệm đồng chí Nguyễn Sinh Sắc đã được xếp hạng di tích lichj sử quốc gia.

 

Nhựa và bê tông

Ốt Trung Vân

Nhà văn hóa khối 1A

700

7

 

Danh nhân cách mạng

(Lãnh đạo cách mạng tiền bối)

13

13

Nguyễn Tài Cẩn

Nguyễn Tài Cẩn (1926 2011)

 Quê quán: xã Thanh Văn (Nay là xã Đại Đồng) là một trong những chuyên gia đầu ngành Ngôn ngữ học Việt Nam. Ông đã có công lớn trong việc xây dựng chuyên ngành Ngôn ngữ học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là khoa Ngôn ngữ học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học – công nghệ năm 2000, được phong tặng học hàm Giáo sư đợt 1 năm 1980 và danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 2008.

Bê tông

Nhà Hồng Tuấn khối 2A

Nhà bà Mượi khối 2A

827

6

11

Danh nhân thời hiện đại

(Nhà khoa học)

14.

14

Phan Nhân Tường

Phan Nhân Tường (1514-1576)

Quê quán: xã Thanh Hà, huyện Thanh Chương.

Đậu tiến sĩ năm 32 tuổi, Phan Nhân Tường ra làm quan giúp vua Lê, diệt Mạc, Vua Lê giao cho ông chức Giám Sát Ngự Sử. Năm Bính Tý 1576 ở xứ Nghệ đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh lớn giữa Nam triều và Bắc triều, Mạc Kính Điển đã đem quan vào đánh Thanh Hóa, Nghệ An. Phan Nhân Tường đã sát cánh cùng Tấn Quận Công, Nguyễn Cảnh Hoan lập được nhiều chiến công. Trong trận quyết chiến này Phan Nhân Tường đã tử trận ngày 02/9/1576. Di tích đền thờ ông đã được xếp hạng di tích cấp Tỉnh năm 1999

Bê tông

Nhà ông Thanh Thìn

Nhà ông Doãn Quý

550

6,5

 

Danh nhân triều Lê

15

15

Nguyễn Đình Cổn

Nguyễn Đình Cổn (1652 - 1685)

Quê quán: xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương.

Năm 25 tuổi (1676) dưới  thời Lê Hy Tông, Nguyễn Đình Cổn thi khoa sỹ vọng đậu Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, cùng năm đó đậu tiếp khoa Đông các, ông là một trong những người có vinh dự hiếm có một năm vinh quy ở hàng đại khoa hai lần. Nguyễn Đình Cổn làm quan đến Đặc tiến gia phong đại phu - Thiêm đô ngự sử; Đông các hiệu thư và Đông Triều Nam tước. Năm 1685, Nguyễn Đình Cổn phụng mệnh nhà Vua đi sứ nhà Thanh trên đường đi thì bị bệnh qua đời lúc 33 tuổi. Ông được người đời biết đến là người chính trực, dám nói thẳng những việc làm sai trái của các quan lại đương thời. Nhà thờ Nguyễn Đình Cổn đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2011

 

Bê tông

Huyện ủy Thanh Chương

Văn phòng đăng kí quyền sử dụng đất

550

8

 

Danh nhân triều Lê

16

16

Nguyễn Tiến Tài

Nguyễn Tiến Tài (1642- 1698)

Quê quán: xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương.

Năm 17 tuổi Nguyễn Tiến Tài tham dự khoa Canh Tý (1660) thi hương đố Hương Cống, năm 23 tuổi  ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Trị (1664) đời vua Lê Huyện Tông. Ông nổi tiếng là vị quan thanh liêm, đã trải qua các chức vụ như: Giám sát sứ Kinh Bắc; Thừa chính Sơn Nam, Tổng đốc Hải Dương, hàm Hồng Lô tự Khanh, Công Bộ Tả thị  lang, Bồi tụng tả thị lang, Giám sát Đô ngự sử tước Yên Nhân tử. Đặc biệt ông từng được giao trọng trách quan trọng đó là cử làm Phó sứ cùng với Chánh sử Nguyễn Đình Cổn sang giao hảo với nhà Thanh.Trên đường đi Chánh sứ Nguyễn Đình Cổn bị bệnh qua đời, ông đã đảm nhận chức Chánh sứ trực tiếp thuyết phục nhà Thanh không dung nạp tàn quân của nhà Mạc, diệt trừ bọn phiến loạn, đem lại sự bình yên cho nhân dân. Khi trở về được nhà vua khen thưởng ban cho năm chữ: Trung Cần Đại Đức Nhân”. Năm Đinh Sửu (1697) ông qua đời và được triều đình giao cho nhân dân lập đền thờ tôn làm phúc thần. Di tích Nhà thờ Tiến sỹ Nguyễn Tiến Tài đã được xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia.

 

Nhựa

UBND Huyện Thanh Chương

Nhà văn hóa khối 1A

750

9

 

Danh nhân triều Lê

17

17

Phạm Kinh Vĩ

Phạm Kinh Vĩ (1691-1758)

Quê quán:  xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương.

 Ông là người học rộng, tinh thông số học, thi Hương đỗ Giải nguyên. Đậu Tiến sỹ khoa Giáp Thìn (1724) khi 34 tuổi. Ông làm quan dưới hai triều vua Lê Dụ Tông và Lê Hiển Tông giữ các chức vụ như: Thừa chánh sứ, Giám sát các sứ, các đạo Sơn Nam, Tuyên Quang. Ông nổi tiếng là người nhân nghĩa, luôn giúp đỡ dân nghèo, tổ chức khai hoang lập làng giúp nhân dân an cư lạc nghiệp. Năm 1785 ông qua đời, tưởng nhớ đến công lao của ông, nhân dân đã lập đền thờ phụng. Nhà thờ Ông đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh.

Nhựa

Trung tâm chính trị

Đập Rành Rành

1156

6

 

Danh nhân triều Lê

18.

18

Võ Quý Huân

Võ Quý Huân (1915-1967

Quê quán: xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương. Ông là một trong những trí thức, kỹ sư người Việt đầu tiên tốt nghiệp tại Pháp về ngành Đúc - Luyện kim. Cùng với Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước và Võ Đình Quỳnh, Võ Quý Huân đã theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về Việt Nam năm 1946. Khi về nước, Võ Quý Huân được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung bộ. Ông là người nghiên cứu sản xuất những mẻ thép đầu tiên phục vụ kháng chiến và đặt nền móng cho sự nghiệp đào tạo ngành đúc - luyện kim. Ông đã cùng nhóm nghiên cứu luyện thành công hợp kim ferô silic. Ông là hiệu trưởng đầu tiên của trường dạy nghề công nhân kỹ thuật 1, tiền thân của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội sau này.Năm 2011, ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất.

Nhựa

Nhà ông Long khối 6A

Nhà ông Sáng khối 1A

550

5,5

 

Danh nhân thời hiện đại (Nhà khoa học)

19

19

Tôn Quang Phiệt

Tôn Quang Phiệt (1900-1973)

Quê quán: Xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Tuổi nhỏ ông học trường Quốc học Vinh, năm 1923, ông ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, năm 1925 ông cùng với Đăng Thai Mai, Phạm Thiều,.. thành lập tổ chức Việt Nam nghĩa đoàn, để tham gia đấu tranh đỏi thả cụ Phan Bội Châu. Sau khi tổ chức này được sát nhập và Hội phục Việt sau này là hội Hưng Nam (1925), Đảng Tân Việt (1928) đây là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam , Tôn Quan Phiệt được bầu làm Hội trưởng. Năm 1925 tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, năm 1930 gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng và Ủy ban kháng chiến đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên.

Năm 1946, ông trở thành Đại biểu Quốc hội khóa I và tham gia vào Uỷ ban dự thảo Hiến pháp Việt Nam năm 1946. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa I-IV đã từng đảm nhận nhiều chức vụ trong Quốc hội như Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội khóa I, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Tổng Thư ký Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa III, IV. Ông mất đột ngột vào 1 năm 1973 trong một chuyến công tác tới Bắc Kinh, Trung Quốc, thọ 73 tuổi.

Tôn Quang Phiệt đã được nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Sao Vàng. Hiện nay tên ông đã được đặt cho những con đường ở Huế, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và thành phố Hà Nội.

Bê tông

Ông Sơn khối 5A

Ông Thiện khối 1A

530

5,5

 

Danh nhân cách mạng

20

20

Đỗ Bá Công Đạo

Đỗ Bá Công Đạo (?- ?)

Quê quán: xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương.

 Đỗ Bá Công Đạo còn có tên là Đỗ Công Luận, thi trúng giám sinh vào năm đầu niên hiệu Dương Đức đời Lê Gia Tông (1672), sau được bổ làm Tri huyện Thạch Hà, được phong tước Đoan Triều nam. Ông là người có công vẽ bản đồ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào thế kỷ thứ 17, xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này. Nhà thờ họ Đỗ nơi thờ Đỗ Bá Công Đạo đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh.

Bê tông

Nhà ông Hợp khối 6A

Đập Rành Rành

500

6

 

 Danh nhân triều Lê

21

21

Đức Phổ

Đức Phổ là một thị xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi, là huyện kết nghĩa của Thanh Chương. Hiện nay ở thị trấn Đức Phổ đã có “Đường Thanh Chương”

Nhựa

Ngân hàng chính sách

Nhà Hải Bích

603

10

 

Danh từ

22.

22

Hoàng Đình Cầu

Hoàng Đình Cầu (1917-2005)

Quê quán: xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương là Giáo sư, Bác sỹ, Anh hùng Lao động. Ông đã đảm nhiệm các chức vụ: Vụ trưởng Vụ huấn luyện, Thứ trưởng Bộ Y tế, Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội.

Bê tông

Ao bệnh viện Huyện

Nhà Sơn Hà khối 6A

900

6

 

Danh nhân thời hiện đại (Anh hùng Lao động)

23

23

Phan sỹ Thục

Phan Sỹ Thục (1822-1891)

Quê quán: xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương.

Năm 1840, Phan Sĩ Thục đậu Tú tài, năm 1846 đậu Cử nhân, năm 1849 đậu Tiến sĩ. Tháng 4 năm 1851 ông được bổ nhiệm Tri phủ Cam Lộ, bắt đầu cuộc đời làm quan dưới triều Nguyễn. Ông làm quan đến chức Trung phụng Đại phu, tham tri Bộ Binh kiêm phó đô Ngự sử Đô sát, Tuần vũ các tỉnh miền Trung. Nhà thờ Phan Sỹ Thục đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh.

Bê tông

Nhà văn hóa khối 6A

Nhà anh Huy khối 6A

800

6

 

Danh nhân Nguyễn

24

24

Nguyễn Cảnh Hoan

Nguyễn Cảnh Hoan (1521-1576)

Quê quán: người xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương,, tỉnh Nghệ An. Ông là người thông minh, trí dũng, văn võ kiêm toàn, một lòng vì nước vì dân. Ông có công phò giúp nhà Lê dựng lại triều đại Lê Trung Hưng, được vua Lê phong làm Thái Phó Tấn Quốc công và được chúa Trịnh cho đổi theo họ nhà chúa gọi là Trịnh mô. Ông không chỉ là một dũng tướng tài giỏi mà còn là một người tinh thông kim cổ, am hiểu chữ Hán và chữ Nôm. Ông viết nhiều sách chữa bệnh giúp dân cũng như sử dụng văn chương làm vũ khí chống kẻ thù. Đền thờ ông ở quê hương đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia.

Nhựa và bê tông

Nhà bà Vị khối 5A

Đập đất đỏ

1472

6

 

Danh nhân triều Lê

26.

25

Nguyễn Phùng Thời

Nguyễn Phùng Thời ( 1685 -1754)

Quê quán: xã Xuân Tường, huyện Thanh Chương.

Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm Tân Mão (1711) ông thi đậu Hương Cống. Khoa thi Hội năm Ất Mùi đời Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 11 (1715) ông đậu Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân và được vua Lê Dụ Tông bổ nhiệm làm Giám sát Ngự sử đạo Lạng Sơn. Ngày 11 tháng 11 năm Bảo Thái thứ nhất (1720), Nguyễn Phùng Thời được triều đình tin tưởng bổ làm Giám sát Ngự sử đạo Hải Dương. Năm 1724, ông được triệu về kinh và thăng chức Hàn lâm Viện Thị Chế. Ngày 24 tháng 12 năm Bảo Thái thứ 8 (1728) ông được giao nhiệm vụ làm Hiến sát sứ xứ Kinh bắc. Năm 1739, ông được thăng Triều Liệt Đại phu Đông các Đại học sỹ. Năm 1740, ông giữ chức Đông các Đại học kiêm đô Ngự Sử. Đền thờ ông được xếp hạng quốc gia năm 2013.

Bê tông

Ngã 3 bà Hội khối 5A

Sân bóng Yên Mỹ khối 7A

1500

6

 

Danh nhân

triều Lê

26

26

Đinh Nhật Thận

Đinh Nhật Thận (1815-1866) – Danh sỹ triều Nguyễn.

Quê quán: xã Thanh Tiên, huyện Thanh Chương

Lúc nhỏ ông nổi tiếng là người thông minh. Năm Mậu Tuất (1838), dưới triều vua Minh Mạng, ông đỗ Tiến sĩ, được bổ nhiệm làm Tri phủ Anh Sơn (nay là huyện Anh Sơn), song do bản tính cương trực, không chịu khuất phục trước những thói xấu ở chốn quan trường, ông đã về quê mở trường dạy học, chữa bệnh cho người nghèo và khai hoang lập làng hình thành nên các làng xóm trù mật. Năm 1853, Triều đình cho phục chức, nhưng ông cáo bệnh từ chối, ông thường giao du với các danh sỹ cùng thời như Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hàm Ninh, Cao Bá Quát,... Khi cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương thất bại, Cao Bá Quát bị giết hại. Do ông là bạn thân của Cao Bá Quát nên bị triều đình nghi ngờ bắt giam và khép tội tử hình sau đó được ân xá và bắt ở lại Huế để dạy học cho con em hoàng tộc. Ông qua đời vào năm 1866 hưởng, 52 tuổi. Về thơ văn, ông là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng như: “ Thu dạu lữ hoài”, “Bạch Mao am thi lại”…

Bê tông

Trường mầm non cơ sở 2

Nhà bà Tích khối 7A

1200

6,5

 

Danh nhân triều Nguyễn

27

27

Phan Đà

Phan Đà (? -1426)

Quê quán: xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương.

Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, vốn là người thông minh, khỏe mạnh, giõi võ nghệ. Năm 1425 Nghĩa quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An, hưởng ứng lời kêu gọi của Lê Lợi ông đã tham gia nghĩa quân và được tin dùng. Phan Đà đã tham gia nhiều trận đánh và lập nhiều chiến công, sau đó được Lê Lợi giao trấn giữ thành Bình Ngô  ở Thanh Chương. Năm 1426, trong một trận đánh địch ở bên bờ hữu ngạn Sông Lam, ông đã tử trận. Lê Lợi đã sắc phong cho Phan Đà là: “ Đô Thiên đại đế Bạch thượng đẳng phúc thần” và cho nhân dân lập đền thờ phụng. Đền Bạch Mã, xã Võ Liệt – nơi thờ chính của Phan Đà đã được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia.

Bê tông

Nhà máy sắn

Khối 5A

1808

7

 

Danh nhân thời Lê

28

28

Đinh Bộ Cương

Đinh Bộ Cương (chưa rõ năm sinh, mất)

 Quê quán: xã Thanh Liên, huyện Thanh Chương.

Ông làm quan dưới hai triều vua Lê Thánh Tông và Lê Hiển Tông được vua Lê Thánh Tông (1442-1497) tuyển trực tiếp bổ làm Thượng thư Bộ Hình. Ông có công lớn trong việc chiêu dân lập ấp, khai khẩn nên các xã vùng hữu ngạn tổng Cát Ngạn ngày nay. Mộ ông hiện vẫn còn tại xã Hạnh Lâm. Bia đá khắc ghi điều này hiện đặt tại xã Thanh Liên. Đinh Bộ Cương, chính là người khai khoa cho mảnh đất Thanh Chương.

Bê tông

Xưởng cưa ông Long khối 5A

Xóm Họ khối 5A

1129

6

 

Danh nhân triều Lê

29

29

Đặng Nguyên Cẩn

Đặng Nguyên Cẩn (1867-1923),  

Quê quán: xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương.

Tên cũ là Đặng Thai Nhận, hiệu Thai Sơn, Tam Thai; Đậu Phó bảng khoa thi năm Ất Mùi – Thành Thái 7 (1895). Làm quan: Giáo thụ Hưng Nguyên sau đó đốc học Bình Thuận. Năm 19-07 ông cùng với Ngô Đức Kế mở “ Triều Dương thương quán” ở Vinh để tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước. Năm 1908, ông bị bắt, giam trong nhà tù Côn Đảo. Năm 1921 được trả tự do, ông tiếp tục hoạt động trong phong trào Đông Du, Duy tân do cụ Phan Bội Châu, được 2 năm thì qua đời. Cụ Huỳnh Thúc Kháng trong tác phẩm “ Thi tù tùng thoại” viết về ông như sau: “ Cụ Đặng Nguyên Cẩn là một nhà học rộng, sỹ phu Nghệ Tĩnh xem như núi Thái Sơn, sao Bắc Đẩu…” Ông đã để lại một số tác phẩm chữ Hán. Nhà tho. Nhà thờ Đặng Nguyên Cẩn đã được xếp hạng cấp Quốc gia năm 2020.

Bê tông

Cổng chợ Đón

Nhà ông Thân Khối 5A

400

5,5

 

Danh nhân thời  cách mạng cận đại

30

30

Trần Hưng Học

Trần Hưng Học (1631-1673)

Quê quán: xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương

Là người giỏi võ nghệ, tinh thông binh pháp. Lớn lên thấy cảnh đất nước chiến tranh liên miên giữa 2 thế lực Trịnh- Nguyễn, ông cùng với em trai là Trần Hưng Nhượng tập trung, rèn luyện dân binh giúp vua Lê đánh quân của chúa Nguyễn. Uy thế của ông ngày càng vang xa và được Đương quận công Đào Quang Nhiêu thu nhận và giao lĩnh xướng dân binh đánh nhiều trận để bảo vệ bờ cõi ở lưu vực Sông Lam lập được nhiều chiến công. Trong thời gian được giao nhiệm vụ bảo vệ biên cương ở khu vực Nghệ An, ông và em trai Trần Hưng Nhượng đã đã  tổ chức khai hoang, khai khẩn một vùng rộng lớn ban cho cư dân 3 xã Hàm Lâm, Bích Truyền và Võ Nguyên mang lại cho nhân dân cuộc sống thanh bình, yên ổn làm ăn. Ông qua đời năm Quý sửu (1677), thọ 43 tuổi. Sau khi ông mất, triều đình nhà Lê đã truy tặng ông tước Tham đốc Triều quận công và giao cho nhân dân tổng Bích Triều lập đền thờ phụng. Đền thờ ông đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

 

Bê tông

Nhà ông Hội khối 7A

Nhà máy gạch

800

6

 

Danh nhân  triều Lê

31

31

Trần Hưng Nhượng

Trần Hưng Nhượng (1635-1710)

Quê quán: xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương

Trần Hưng Nhượng là người thông minh, giỏi võ nghệ, am tường binh pháp. Sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước chiến tranh liên miên bởi hai thế lực chính quyền Lê -  Trịnh ở đàng ngoài và chúa Nguyễn ở đàng trong làm cho nhân dân đói khổ, lý tán. Ông đã cùng với anh trai của mình là Trần Hưng Học tham gia quân đội triều Lê để bảo vệ bờ cõi. Là người có mưu lược, cầm quân giỏi, lập được nhiều chiến công nên ông đã được giao nhiều chức vụ quan trọng như: Thự vệ, Cẩm y vệ, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, tước Trung Quận công hàm Thượng trụ quốc. Ông qua đời năm 1710. Di tích đền thờ Trần Hưng Nhượng đã được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia.

Nhựa

Đầu cầu Yên Thượng

Xã Thanh Ngọc

963

7

 

Danh nhân triều Lê

 

Tổng số tuyến đường dự kiến đặt tên: 31  đường            

 

 

 

CHỦ TỊCH HĐTV

GIÁM ĐỐC SỞ VHTT

 

 

 

 

Trần Thị Mỹ Hạnh

 

 

 
 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
<<   <  1  2  3  4  5  >  >>  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu