Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
CƠ CẤU TỔ CHỨC
Skip portletPortlet Menu
 
tiềm năng thanh chương
Skip portletPortlet Menu
 
THÔNG TIN CHUNG
Skip portletPortlet Menu
 
Văn hóa Thanh Chương
Skip portletPortlet Menu
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thông báo danh mục ngân hàng tên đường thị trấn Thanh Chương (09/10/2020 03:54 PM)

UBND TỈNH NGHỆ AN

HĐTV ĐTĐ TT THANH CHƯƠNG

CỘNGHOÀ XÃ HÔỊ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

   DANH  MỤC NGÂN HÀNG TÊN ĐƯỜNG THỊ TRẤN THANH CHƯƠNG

 

TT

Tên danh nhân, phong trào CM, địa danh nổi tiếng, sự kiện lịch sử

Tóm tắt tiểu sử

I. DANH NHÂN

Thời kỳ dựng nước đến  Hậu Lê

1.      

Nguyễn Cảnh Chân

Nguyễn Cảnh Chân (1355 - 1409) là danh tướng  thời Hậu Trần .

 Quê quán: làng Ngọc Sơn, huyện Thạc Đường nay là xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Năm 1407 khi quân Minh xâm lược nước ta, ông đã phò giúp Trần Ngỗi lên ngôi vua, hiệu là Giản Định Đế, được vua giao chức vụ Đồng Trị khu mật tham mưu về quân sự. Trong những năm đầu kháng chiến chống quân Minh ông đã cùng với  Đặng Tất đánh thắng nhiều trận, thu phục được nhiều vùng đất từ Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Thanh Hóa,.. Giữa lúc cuộc trung hưng của nhà Trần đang trên đà phát triển thì Nguyễn Cảnh Chân bị gian thần Nguyễn Quỹ dèm pha tâu với vua, khiến vua Giản Định Đế ngờ vực và giết hại ông cùng với Đặng Tất vào tháng 2 năm 1409.

 

2.      

Nguyễn Cảnh Dị

Nguyễn Cảnh Dị (1377 – 1414) – Danh tướng thời hậu Trần.

Quê quán: làng Ngọc Sơn, huyện Thạc Đường nay là xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Ông là con trai của Nguyễn Cảnh Chân một trong những danh tướng hậu Trần có công lớn trong việc đánh đuổi quân Minh. Sau khi Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân bị giết, ông cùng con trai của Đặng Tất là Đặng Dung đem quân vào Nghệ An lập Trần Quý Khoáng lên làm vua lấy niên hiệu là Trùng Quang (1409). Được phong làm Thái bảo, ông đã phò giúp vua Trung Quang đánh nhiều trận thắng lớn ở Bình Than, Hàm Tử.. Năm 1410, Trương Phụ một tướng của quân Minh kéo quân vào Nghệ An, ông cùng với Nguyễn Súy chỉ huy quân chống cự quyết liệt nhưng thế giặc quá mạnh, ông đã bị gặc bắt. Nhiều lần Trương Phụ dụ hàng ông song ông không chịu khuất phục nên bị  giết hại.

3.      

Phan Đà

Phan Đà (? -1426) – Danh tướng thời Lê

Quê quán: xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương.

Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, vốn là người thông minh, khỏe mạnh, giõi võ nghệ. Năm 1425 Nghĩa quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An, hưởng ứng lời kêu gọi của Lê Lợi ông đã tham gia nghĩa quân và được tin dùng. Phan Đà đã tham gia nhiều trận đánh và lập nhiều chiến công, sau đó được Lê Lợi giao trấn giữ thành Bình Ngô  ở Thanh Chương. Năm 1426, trong một trận đánh địch ở bên bờ hữu ngạn Sông Lam, ông đã tử trận. Thương tiếc một vị tướng trẻ tài ba, sau khi lên ngôi vua Lê Lợi đã sắc phong cho Phan Đà là : “ Đô Thiên đại đế Bạch thượng đẳng phúc thần” và cho nhân dân lập đền thờ phụng. Đền thờ ông nay ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, là một trong 4 ngôi đền nổi tiếng linh thiêng của xứ Nghệ.

 

4.      

Đinh Bộ Cương

Đinh Bộ Cương (……..) – Danh sĩ thời Lê

 Quê quán: xã Thanh Liên, huyện Thanh Chương.

Ông làm quan dưới hai triều vua Lê Thánh Tông và Lê Hiển Tông được vua Lê Thánh Tông (1442-1497) tuyển trực tiếp bổ làm Thượng thư Bộ Hình. Ông có công lớn trong việc chiêu dân lập ấp, khai khẩn nên các xã vùng hữu ngạn tổng Cát Ngạn ngày nay. Mộ ông hiện vẫn còn tại xã Hạnh Lâm. Bia đá khắc ghi điều này hiện đặt tại xã Thanh Liên. Đinh Bộ Cương, chính là người khai khoa cho mảnh đất Thanh Chương.

5.      

Nguyễn Cảnh Huy

Nguyễn Cảnh Huy (1473-1536)  - danh tướng thời Lê

Quê quán: xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương.

Ông xuất thân trong một gia đình có truyền thống làm nghề bốc thuốc chữa bệnh và chèo  đò trên sông Lam. Sinh ra trong thời kỳ đất nước loạn lạc, ông đã cùng các con  của mình là Nguyễn Cảnh Noãn, Nguyễn Cảnh Hân, Nguyễn Cảnh Hoan, Nguyễn Cảnh Vạn, Nguyễn Cảnh Chiêu lập đồn trại, chiêu mộ quân sỹ đánh đuổi giặc cướp, tiễu trừ sơn tặc giúp nhân dân yên ổn làm ăn.

Năm 1536  ông mang quân lên Sầm Châu theo  vua Lê Trang Tông và được trọng dụng và bantước Hoàng Hưu tử, Bình Dương hầu.Về sau được gia phong Phúc Khánh Quận công.

6.      

Nguyễn Cảnh Hoan

Nguyễn Cảnh Hoan (1521-1576) - Danh tướng thời Lê.

Quê quán: Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông là người thông minh, trí dũng, văn võ kiêm toàn, một lòng vì nước vì dân. Ông có công phò giúp nhà Lê dựng lại triều đại Lê Trung Hưng, được vua Lê phong làm Thái Phó Tấn Quốc công và được chúa Trịnh cho đổi theo họ nhà chúa gọi là Trịnh mô. Ông không chỉ là một dũng tướng tài giỏi mà còn là một người tinh thông kim cổ, am hiểu chữ Hán và chữ Nôm. Ông viết nhiều sách chữa bệnh giúp dân cũng như sử dụng văn chương làm vũ khí chống kẻ thù. Đền thờ ông ở quê hương đã được xếp hạng di tích lịch sử Quốc gia.

7.      

Nguyễn Ngọc Dật

Nguyễn Ngọc Dật (?-?) xã Cát Ngạn, huyện Thanh Chương. Đậu Tiến sỹ khoa Bính Ngọ - Nguyên Hòa 14 (1546).

8.      

Phan Nhân Tường

Phan Nhân Tường (1514-1576) - Tiến sỹ triều Lê

 

Quê quán: xã Thanh Hà, huyện Thanh Chương.

Đậu tiến sĩ năm 32 tuổi, Phan Nhân Tường ra làm quan giúp vua Lê, diệt Mạc, nhà Vua thấy Phan Nhân Tường là người thông thái, công minh, chính trực đã giao cho ông chức Giám Sát Ngự Sử. Năm Bính Tý 1576 ở xứ Nghệ đã xảy ra nhiều cuộc chiến tranh lớn giữa Nam triều và Bắc triều, Mạc Kính Điển đã đem quan vào đánh Thanh Hóa, Nghệ An. Phan Nhân Tường đã sát cánh cùng Tấn Quận Công, Nguyễn Cảnh Hoan và những người bạn đồng hương Thanh Chương như Nguyễn Duy Hiền (Hoa Ổ) lập được nhiều chiến công “Phan Nhân Tường đã cùng Nguyễn Cảnh Kiên (con trai Nguyễn Cảnh Hoan) tiến công bắt được Nguyễn Quyện ở Cầu Dền Hà”. Trong trận quyết chiến này Phan Nhân Tường đã tử trận ngày 02/9/1576, để lại lòng thương tiếc cho tướng sĩ và nhân dân. Di tích đền thờ ông đã được xếp hạng di tích cấp Tỉnh năm 1999

9.      

Chu Dy Hiến

Chu Dy Hiến (1555-?) – Danh thần triều Hậu Lê

Quê quán: xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương.

Đậu Tiến sỹ khoa Kỷ Sửu Quang Hưng 2 (1589). Ông nổi tiếng là người thanh liêm, có nhiều công trạng, làm quan đến chức “Giám sát Ngự sử Đề hình thập tam đạo, hữu Thị lang, tước Văn thụy hầu”. Trong thời gian làm quan ở Nghệ An ông đã có công giúp dân xây dựng cầu cống để đi lại, được dân khắc bia tưởng nhớ.

10.    

Chu Phụng Đức

Chu Phụng Đức (?-?) – Danh thần triều Lê

Quê quán: xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương.

 

Ông là Con trai của Tiến sỹ Chu Dy Hiến, Trong lịch sử ông được biết đến là một vị tướng tài thời vua Lê, chúa Trịnh (Trịnh Tráng) làm đến chức Đô đốc Thiêm sự. Ông là người có công rất lớn trong việc chỉ huy quân Cẩm y vệ tiến đánh quân nhà Mạc, chiếm lại được kinh đô Thăng Long về cho nhà Lê làm tiền đề cho việc Trung hưng đất nước. Ông la một trong năm vị có công lớn trong việc phò giá vua, được phong đến chức: Phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ, Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ thự vệ sự, tước Nhai quận công.

 

 

 

11.    

Chu Phụng Huệ

Chu Phụng Huệ (?-?) Danh tướng triều Lê

Quê quán: xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương.

 

Ông là con trai thứ của Chu Dy Hiến, tước phong là Hiển Lương hầu, là võ quan trong triều. Giữ chức Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Cẩm y vệ chỉ huy sứ ty Đô chỉ huy Thiêm sự.

12.    

Nguyễn Đình Cổn

Nguyễn Đình Cổn (1652 - 1685) – Danh sỹ thời Lê

Quê quán: xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương.

Năm 25 tuổi (1676) dưới  thời Lê Hy Tông, thi khoa sỹ vọng đậu Đệ Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, cùng năm đó đậu tiếp khoa Đông các, ông là một trong những người có vinh dự hiếm có một năm vinh quy ở hàng đại khoa hai lần. Nguyễn Đình Cổn làm quan đến Đặc tiến gia phong đại phu - Thiêm đô ngự sử; Đông các hiệu thư và Đông Triều Nam tước. Năm 1685, Nguyễn Đình Cổn phụng mệnh nhà Vua đi sứ nhà Thanh trên đường đi thì bị bệnh qua đời lúc 33 tuổi. Ông được người đời biết đến là người chính trực, dám nói thẳng những việc làm sai trái của các quan lại đương thời. Nhà thờ Nguyễn Đình Cổn đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh năm 2011

 

 

 

13.    

Đỗ Bá Công Đạo

 Đỗ Bá Công Đạo (?- ?) – Danh sỹ triều Lê

Quê quán: xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương.

 Đỗ Bá Công Đạo còn có tên là Đỗ Công Luận, thi trúng giám sinh vào năm đầu niên hiệu Dương Đức đời Lê Gia Tông (1672), sau được bổ làm Tri huyện Thạch Hà, được phong tước Đoan Triều nam. Ông là người có công vẽ nên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào thế kỷ thứ 17, xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này.

14.    

Trần Hưng Học

Trần Hưng Học (1631-1673) – Võ tướng thời Lê

Quê quán: xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương

Là người giỏi võ nghệ, tinh thông binh pháp. Lớn lên thấy cảnh đất nước chiến tranh liên miên giữa 2 thế lực đàng trong và đàng ngoài, ông cùng với em trai là Trần Hưng Nhượng tập trung, rèn luyện dân binh với mong muốn giúp vua Lê đánh quân của chúa Nguyễn. Uy thế của ông ngày càng vang xa và được Đương quận công Đào Quang Nhiêu thu nhận và giao lĩnh xướng dân binh đánh nhiều trận để bảo vệ bờ cõi ở lưu vực Sông Lam lập được nhiều chiến công. Trong thời gian được giao nhiệm vụ bảo vệ biên cương ở khu vực Nghệ An, ông và em trai Trần Hưng Nhượng đã đã  tổ chức khai hoang, khai khẩn một vùng rộng lớn ban cho cư dân 3 xã Hàm Lâm, Bích Truyền và Võ Nguyên mang lại cho nhân dân cuộc sống thanh bình, yên ổn làm ăn. Ông qua đời năm Quý sửu (1677), thọ 43 tuổi. Sau khi ông mất, triều đình nhà Lê đã truy tặng ông tước Tham đốc Triều quận công và giao cho nhân dân tổng Bích Triều lập đền thờ phụng.

15.    

Trần Hưng Nhượng

 

Trần Hưng Nhượng (1635-1710) - Danh thần thời Lê.

Quê quán: xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương

 

Trần Hưng Nhượng là người thông minh, giỏi võ nghệ, am tường binh pháp. Sinh ra và lớn lên trong thời kỳ đất nước chiến tranh liên miên bởi hai thế lực chính quyền Lê -  Trịnh ở đàng ngoài và chúa Nguyễn ở đàng trong làm cho nhân dân đói khổ, lý tán. Ông đã cùng với anh trai của mình là Trần Hưng Học tham gia quân đội triều Lê để bảo vệ bờ cõi. Là người có mưu lược, cầm quân giỏi, lập được nhiều chiến công nên ông đã được giao nhiều chức vụ quan trọng như: Thự vệ, Cẩm y vệ, Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, tước Trung Quận công hàm Thượng trụ quốc. Ông qua đời năm 1710. Di tích đền thờ Trần Hưng Nhượng đã được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia.

16.    

Nguyễn Phùng Thời

 

Nguyễn Phùng Thời ( 1685 -1754) – Danh sỹ triều Lê

Quê quán: xã Xuân Tường, huyện Thanh Chương.

Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm Tân Mão (1711) ông thi đậu Hương Cống. Khoa thi Hội năm Ất Mùi đời Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 11 (1715) ông đậu Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân và được vua Lê Dụ Tông bổ nhiệm làm Giám sát Ngự sử đạo Lạng Sơn. Ngày 11 tháng 11 năm Bảo Thái thứ nhất (1720), Nguyễn Phùng Thời được triều đình tin tưởng bổ làm Giám sát Ngự sử đạo Hải Dương. Năm 1724, ông được triệu về kinh và thăng chức Hàn lâm Viện Thị Chế. Ngày 24 tháng 12 năm Bảo Thái thứ 8 (1728) ông được giao nhiệm vụ làm Hiến sát sứ xứ Kinh bắc. Năm 1739, ông được thăng Triều Liệt Đại phu Đông các Đại học sỹ. Năm 1740, ông giữ chức Đông các Đại học kiêm đô Ngự Sử.

17.    

Nguyễn Bá Quýnh

Nguyễn Bá Quýnh (1710-1772)  - Danh thần triều Lê Trung Hưng

Quê quán: xã Xuân Tường, huyện Thanh Chương.

 

Ông là con trai của Tiến sỹ Nguyễn Phùng Thời, lúc nhỏ là người học giỏi nổi tiếng được xme là thần đồng. Năm 1733 dưới đời vua Lê Thần Tông ông thi đậu Đệ Tam giáp đồng  tiến sỹ xuất thân được bổ làm tư nghiệp Quốc tử giám, sau đó được cử làm Giám sát Ngự sử trấn Nghệ An, trong thời gian trị nhậm ông đã xử nhiều vụ án để lấy lại công bằng cho người dân. Đến 50 tuổi ông xin cáo quan về quê mở trường dạy học. Ông qua đời năm 1772, cảm kích sự đức độ và công lao của ông, Triều đình đã  truy tặng là Đông các đại học sỹ, tước Mai lĩnh hầu.

 

18.    

Nguyễn Tiến Tài

 

Nguyễn Tiến Tài (1642- 1698) – Danh thần triều Hậu Lê.

Quê quán: xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương.

Ông là người nổi tiếng thông minh, học giỏi, năm 17 tuổi , khoa Canh Tý (1660) thi hương đố Hương Cống, năm 23 tuổi  ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa Giáp Thìn, niên hiệu Cảnh Trị (1664) đời vua Lê Huyện Tông. Trong sự nghiệp của mình ông nổi tiếng là vị quan thanh liêm, đã trải qua các chức vụ như: Giám sát sứ Kinh Bắc; Thừa chính Sơn Nam, Tổng đốc Hải Dương, hàm Hồng Lô tự Khanh, Công Bộ Tả thị  lang, Bồi tụng tả thị lang, Giám sát Đô ngự sử tước Yên Nhân tử. Đặc biệt ông từng được giao trọng trách quan trọng đó là cử làm Phó sứ cùng với Chánh sử Nguyễn Đình Cổn sang giao hảo với nhà Thanh.Trên đường đi Chánh sứ Nguyễn Đình Cổn bị bệnh qua đời, ông đã đảm nhận chức Chánh sứ trực tiếp thuyết phục nhà Thanh không dung nạp tàn quân của nhà Mạc, diệt trừ bọn phiến loạn, đem lại sự bình yên cho nhân dân. Khi trở về được nhà vua khen thưởng ban cho năm chữ: Trung Cần Đại Đức Nhân”. Năm Đinh Sửu (1697) ông qua đời và được triều đình giao cho nhân dân lập đền thờ tôn làm phúc thần.

 

19.    

Nguyễn Sĩ Giáo

Nguyễn Sĩ Giáo (1638-?): người giáp An Tuyền, xã My Sơn, huyện Thanh Chương, nay là xã Thanh Mai, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Đậu Tiến sĩ khoa Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Trị 2 (1664) đời Lê Huyền Tông năm 27 tuổi. Ông làm quan tới chức Đặc tiến Kim tử Vĩnh lộc đại phu, Giám sát hiến sứ để hình, Thị độc.

20.    

Nguyễn Lâm Thái

Nguyễn Lâm Thái (1686- 1741) – danh thần triều Hậu Lê

 Quê quán:  xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Năm 54 tuổi, đỗ Hội nguyên, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu niên hiệu Vĩnh Hựu 5 (1739) đời Lê Ý Tông. Làm quan đến Mậu Lâm tá lang Hàn lâm viện Thị chế, từng giữ chức Đề hình Giám sát ngự sử đạo Thanh Hoa.

21.    

Phạm Kinh Vĩ

Phạm Kinh Vĩ (1691-1758) – Danh thần triều Hậu Lê

Quê quán:  xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương, Ông là người học rộng, tinh thông số học, thi Hương đỗ Giải nguyên. Đậu Tiến sỹ khoa Giáp Thìn (1724) khi 34 tuổi. Ông làm quan dưới hai triều vua Lê Dụ Tông và Lê Hiển Tông giữ các chức vụ như: Thừa chánh sứ, Giám sát các sứ, các đạo Sơn Nam, Tuyên Quang, Giám tri diêm đạo Nghệ An. Ông nổi tiếng là người nhân nghĩa, luôn giúp đỡ dân nghèo, tổ chức khai hoang lập làng giúp nhân dân an cư lạc nghiệp. Năm 1785 ông qua đời, tưởng nhớ đến công lao của ông, nhân dân đã lập đền thờ phụng.

22.    

Nguyễn Thế Bình

Nguyễn Thế Bình (1746-1786) – Danh thần thờ hậu Lê.

Quê quán: xã Cát Văn, huyện Thanh Chương

Ông tên húy là Truyền, sau đổi là Thế Bình, tự Viết Tiến, hiệu là Thanh Cát tiên sinh. Thi đậu Tiến sỹ khoa Ất Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng (1775) năm 30 tuổi. Ông làm quan tới chức Hàn lâm viện hiệu lý, Đốc đồng Nghệ An, Sơn Nam. Năm Bính Ngọ (1786) giặc dã nổi lên ông ra trận, ông mất  năm 41 tuổi.

23.    

Nguyễn Sỹ Sung

Nguyễn Sỹ Sung (1780-1821)- Danh tướng thời Tây Sơn.

Quê quán: xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương.

 

Ông là dũng tướng của nhà Tây Sơn, theo Nguyễn Huệ trong lần ra Bắc lần thứ nhất. Ông nổi tiếng là người giỏi võ, gan dạ được vua Quang Trung phong chức Trung tướng phó chiến, đã tham gia nhiều trận chiến và danh được nhiều chiến công. Được Hoàng đế Quang Trung ban tặng nhiều đạo sắc phong ông là “ anh dũng tướng quân – trung úy, tước Nghĩa đình hầu”

 

Danh nhânThời Nguyễn

24.    

Đinh Nhật Thận

Đinh Nhật Thận (1815-1866) – Danh sỹ triều Nguyễn.

Quê quán: xã Thanh Tiên, huyện Thanh Chương

 

Lúc nhỏ ông nổi tiếng là người thông minh. Năm Mậu Tuất (1838), dưới triều vua Minh Mạng, ông đỗ Tiến sĩ, được bổ nhiệm làm Tri phủ Anh Sơn (nay là huyện Anh Sơn), song do bản tính cương trực, không chịu khuất phục trước những thói xấu ở chốn quan trường, ông đã về quê mở trường dạy học, chữa bệnh cho người nghèo và khai hoang lập làng hình thành nên các làng xóm trù mật. Năm 1853, Triều đình cho phục chức, nhưng ông cáo bệnh từ chối, ông thường giao du với các danh sỹ cùng thời như Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hàm Ninh, Cao Bá Quát,... Khi cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương thất bại, Cao Bá Quát bị giết hại. Do ông là bạn thân của Cao Bá Quát nên bị triều đình nghi ngờ bắt giam và khép tội tử hình sau đó được ân xá và bắt ở lại Huế để dạy học cho con em hoàng tộc. Ông qua đời vào năm 1866 hưởng, 52 tuổi. Về thơ văn, ông là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng như: “ Thu dạu lữ hoài”, “Bạch Mao am thi lại”…

25.    

Nguyễn Hữu Điển

Nguyễn Hữu Điển (1825 - ?) Danh thần triều Nguyễn

Quê quán: xã Thanh Văn, huyện Thanh Chương.

Năm 28 tuổi ông thi đậu Tiến sỹ, nay còn lưu giữ các trướng chúc mừng như Hộ Bộ Thượng thư Ngụy Khắc Tuần, Bộ Binh Tả Tham Tri kiên Quản Hà, Binh bộ tả tham Tri Kiên quản Hàn lâm Viễn Trương Quốc Dũng… Năm Tự Đức thứ 9, ông được lãnh chức Tri phủ Bình Giang (Hải Dương)

26.    

Trần Tấn

Trần Tấn ( - 1874)

người thôn Trường Niên, xã Thanh Chi, huyện Thanh Chương. Là một thủ lĩnh của phong trào Văn Thân chống Pháp dưới thời Nguyễn. Đền thờ, mộ, nền tế cờ Trần Tấn được công nhận DTLS Quốc gia.

27.    

Phan Sỹ Thục

Phan Sỹ Thục (1822-1891), quê xã Võ Liệt, Thanh Chương

Năm 1840 Phan Sĩ Thục đậu Tú tài, năm 1846 đậu Cử nhân, năm 1849 đậu Tiến sĩ. Tháng 4 năm 1851 ông được bổ nhiệm Tri phủ Cam Lộ, bắt đầu cuộc đời làm quan dưới triều Nguyễn.

Ông làm quan đến chức Trung phụng Đại phu, tham tri Bộ Binh kiêm phó đô Ngự sử Đô sát, Tuần vũ các tỉnh miền Trung.

28.    

Lê Đình Thức

Lê Đình Thức (1818-?) người xã Thanh La nay là xã Thanh Lĩnh, huyện Thanh Chương. 26 tuổi đậu cử nhân, 31 tuổi đậu Phó bảng, khoa Mậu Thân - Tự Đức 01 (1848). Làm quan: Lang trung, Bang biện Thái Nguyên.

29.    

Bùi Sỹ Tuyển

Bùi Sỹ Tuyển (1789-?) người Hà Xá nay là xã Thanh Hà, huyện Thanh Chương đậu Phó bảng, khoa Mậu Thân - Tự Đức 01 (1848). Làm quan: Hàn lâm  viện tu soạn. Đốc học Hải Dương, Lang trung bộ hình, Đốc học Quảng Nam, Hàn lâm viện thị độc học sĩ.

30.    

Phan Đình Thực

Phan Đình Thực (1821-1872), người xã Võ Liệt, nay là xã Thanh Long huyện Thanh Chương. Đậu Phó bảng khoa Tân Hơi – Tự Đức 04 (1851). Làm quan: Án sát Nam Định, Biện lý bộ hình.

31.    

Nguyễn Sỹ Ấn

Nguyễn Sỹ Ấn (1815 – 18), quê xã Thanh Lương, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Ông đậu Phó bảng năm Giáp Thìn đời Thiệu Trị thứ 4 (1844). Làm quan Tri huyện Kim Thành, Bố Trạch, Tri phủ Kiến Thụy. Tin tưởng vào tài năng, đức độ ông được Triều đình Huế phong Đại phu hàn lâm viện, làm phúc khảo trường thi Hội năm Thiệu trị thứ 7 (1847), làm đồng chủ khảo thi Đinh khoa Mậu Tuất năm Thành Thái thứ 10 (1888).

32.    

Nguyễn Tài Tuyển

Nguyễn Tài Tuyển (1837-1884) người xã Đại Đồng, huyện Thanh Chương. 41 tuổi đậu đệ tam giáp Tiến sỹ khoa Đinh Sửu – Tự Đức 30 (1877). Làm quan: Tri phủ Tương Dương, Sơn phòng sứ Nghệ An, Tham biện.

33.    

Đặng Nguyên Cẩn

Đặng Nguyên Cẩn (1867-1923), tên cũ là Đặng Thai Nhận, hiệu Thai Sơn, Tam Thai; quê quê làng Lương Điền, tổng Bích Hào nay là xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương. Đậu Phó bảng khoa thi năm Ất Mùi – Thành Thái 7 (1895). Làm quan: Giáo thụ Hưng Nguyên, tham gia phonng trào Duy Tân bị bắt, bị đầy đi Côn Đảo là chí sĩ cận đại trong lịch sử Việt Nam

34.    

Phan Sỹ Bàng

Phan Sỹ Bàng (1889-?) người xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương. Đậu Phó bảng khoa Quý Sửu – Duy Tân 7 (1913). Làm quan Giáo thụ.

Thời kỳ tiền cách mạng và giai đoạn 1930- 1975

35.    

Đặng Thúc Hứa

Đặng Thúc Hứa (1870-1931), hiệu Ngọ Sinh; quê làng Lương Điền, tổng Bích Hào, huyện Thanh Chương nay là xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương là chí sĩ cách mạng cận đại của Việt Nam, người có công rất lớn cùng Nguyễn Ái Quốc gây dựng cơ sở cách mạng tại Xiêm (Thái Lan)

36.    

 

 

37.    

Nguyễn Sỹ Sách

Nguyễn Sỹ Sách (1907-1929), bí danh Kiếm Phong, quê xã Thanh Lương, Thanh Chương là nhà cách mạng Việt Nam.

Tham gia Việt Nam quang phục hội, Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (tổ chức tiền thân của ĐCSVN) hy sinh năm 1929 và được công nhận Liệt sỹ.

38.    

Tôn Gia Chung

Tôn Gia Chung (1900-1979), bí danh Xích Lâm, quê xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Tham gia cách mạng từ nhỏ, kết nạp Đảng ngày 17/3/1930, tháng 8/1930 được cử làm Trưởng ban Tuyên huấn Tỉnh ủy Nghệ An, chủ nhiệm tờ báo Tiến lên. Sau cách mạng tháng Tám ông được cử làm Chủ tịch UB hành chính huyện Thanh Chương. Sau đó làm phó chủ tịch kiêm Bí thư Đảng đoàn nông hội QK4, Vụ phó Vụ nghiệp vụ, Phó GĐ vụ nghiệp vụ tín dụng trong Bộ Nông nghiệp.

Ông được Nhà nước truy tặng Huân Chương Hồ Chí Minh.

39.    

Tôn Quang Phiệt

Tôn Quang Phiệt (1900-1973) xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, tham gia Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, năm 1930 gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa I, Tổng thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Huân chương Sao Vàng, huân chương Hồ Chí Minh.

40.    

Tôn Thị Quế

Tôn Thị Quế (1902-1992) xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An là một chiến sỹ cách mạng tiền bối xuất sắc, đã vinh dự được nhận nhiều phần thưởng cao quý của Đảng và Nhà nước: Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng nhất, Huân chương Sao Vàng, huân chương Hồ Chí Minh. 

41.    

Tôn Gia Tinh

Tôn Gia Tinh (1911-1997), quê xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương; tham gia Đảng Tân Việt năm 1927, người chiến sỹ cộng sản trẻ tuổi, Bí thư đầu tiên của Huyện Đảng bộ Thanh Chương. Sau cách mạng tháng Tám Ông làm Trưởng ty thuế Quảng Nam, Chi cục trưởng Thuế vụ Nghệ An, Hiệu trưởng trường Tài chính Nghệ An.

Với những đóng góp to lớn cho cách mạng đã được Đảng và Nhà nước tôn vinh, tặng thưởng Huân chương độc lập hạng Ba, Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất.

42.    

Trần Hữu Doánh

Trần Hữu Doánh (1906-1945)

Trần Hữu Doánh, bí danh là Đình, Phi, Doanh, sinh năm 1906 tại làng Thổ Sơn, xã Cát Ngạn, tổng Cát Ngạn, nay là xã Cát Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. 

Ngày 15-4-1930, Trần Hữu Doánh dẫn đầu hơn 40 đảng viên và quần chúng hai làng Thổ Sơn và Đạo Ngạn đi tuần hành dọc đường làng, hô vang khẩu hiệu cách mạng. Đây là một trong những cuộc đấu tranh chính trị đầu tiên của nhân dân vùng trên huyện Thanh Chương. 

Các lãnh tụ, các nhà chính trị

43.    

Nguyễn Sinh Cung

Nguyễn Sinh Cung (19-5 -1890 – 2-9- 1969)

Quê quán: Xã Kim Liên huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Nguyễn Sinh Cung là tên khai sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhà Cách mạng, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh dành độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước Việt Nam thế kỷ XX, một chiến sỹ Cộng sản quốc tế. Lúc còn nhỏ Nguyễn Sinh Cung đã theo cha mình là ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc lên Thanh Chương để dạy học. Tại Thanh Chương 3 cha con Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh Sắc đã từng lưu lại tại nhà thờ họ Lê Kim ở làng Nguyệt Bổng. Mặc dù thời gian lưu lại ở làng Nguyệt Bổng không nhiều, nhưng trong âm thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhớ đến nơi này. Sau này, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành lãnh tụ của đất nước, Bác cũng nhiều lần nhắc đến làng Nguyệt Bổng, xem như đó là một kỷ niệm đẹp gắn với thời niên thiếu cúa Bác.

44.    

Võ Thúc Đồng

Võ Thúc Đồng (1914-2007) người xã Thanh Ngọc, Thanh Chương.

Sớm giác ngộ cách mạng, ông bị bắt và giam ở nhà lao Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Côn Đảo. Sau cách mạng tháng Tám ông làm Bí thư tỉnh ủy Kom Tum, Bí thư tỉnh ủy Quảng Bình, Chủ nhiệm chính trị QK4, Chính ủy mặt trận Trung Lào, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, Đại sứ đặc mạnh toàn quyền tại Liên Xô, Bộ trưởng, Bí thư Đảng đoàn Bộ Nông Nghiệp, Ủy viên BCH TW khóa IV, Đại biểu QH khóa 3, khóa 4. Ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang, Huân chương Hữu nghị giữa các dân tộc (do Đảng và Nhà nước Liên Xô trao tặng), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.

Anh hùng LLVT, Anh hùng lao động

45.    

Nguyễn Xuân Cần

Nguyễn Xuân Cần (1929-1972) quê xã Thanh Ngọc, Thanh Chương: Liệt sỹ công an; Anh hùng LLVT

46.    

Nguyễn Bá Chưng

Nguyễn Bá Chưng (1943-1968) quê xã Xuân Tường, Thanh Chương, Liệt sỹ công an; anh hùng LLVT

47.    

Nguyễn Đệ

Nguyễn Đệ (1928-1998) quê ở xóm Bàn Thạch, xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Là Trung tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Tư lệnh Quân khu 9, ông còn có tên gọi khác là Ba Trung.

Các nhà văn hoá, nhà khoa học

48.    

Võ Quý Huân

Võ Quý Huân (1915-1967), quê xã Thanh Tùng, huyện Thanh Chương, Ông là một trong những trí thức, kỹ sư người Việt đầu tiên tốt nghiệp tại Pháp về ngành Đúc - Luyện kim. Cùng với Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Trần Hữu Tước và Võ Đình Quỳnh, Võ Quý Huân đã theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về Việt Nam năm 1946.

Năm 2011, ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất.

49.    

Nguyễn Tài Cẩn

Nguyễn Tài Cẩn (19262011) người xã Thanh Văn (Nay là xã Đại Đồng) là một trong những chuyên gia đầu ngành Ngôn ngữ học Việt Nam. Ông đã có công lớn trong việc xây dựng chuyên ngành Ngôn ngữ học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là khoa Ngôn ngữ học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Ông đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học – công nghệ năm 2000, được phong tặng học hàm Giáo sư đợt 1 năm 1980 và danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 2008.

50.    

Hoàng Đình Cầu

Hoàng Đình Cầu (1917-2005), quê xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương là Giáo sư, Bác sỹ, Anh hùng Lao động. Ông đã đảm nhiệm các chức vụ: Vụ trưởng Vụ huấn luyện, Thứ trưởng Bộ Y tế, Hiệu trưởng trường Đại học Y Hà Nội.

51.    

Trần Đình Hượu

Trần Đình Hượu (1927-1995), quê xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Ông là là Giáo sưTiến sĩ, nhà nghiên cứu về văn học và nho giáo trong văn học Việt Nam và lịch sử tư tưởng.

52.    

 

 

Đặng Thai Mai

Đặng Thai Mai (1902-1980), quê làng Lương Điền, tổng Bích Hào, huyện Thanh Chương nay là xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương.

Xuất thân trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước Đặng Thai Mai học tại trường Trung học Vinh rồi Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, tham gia Đảng Tân Việt khi đang học bị thực dân Pháp bắt và ở tù 3 năm. Ra tù trở lại dạy học ở Hà Nội, tham gia viết báo từ năm 1936.

Cách mạng tháng Tám thành công ông được giao làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Chủ tịch UB hành chính tỉnh Thanh Hòa, Hội trưởng Hội văn hóa Việt Nam, Giám đốc trường ĐH Văn hóa liên khu IV. Giám đốc Đại học dự bị và Sư phạm Liên khu IV.

Sau năm 1954 ông làm Chủ nhiệm khoa Ngữ văn ĐH tổng hợp, Chủ tịch Hội liên hiệp VHNT VN, Hiệu trưởng kiêm Chủ nhiệm khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội, Viện trưởng Viện văn học…

Danh nhân nước ngoài

53.    

Xu-pha-nu-vông

 Vào khoảng năm 1944-1945, Hoàng thân Xuphanuvông đã tham gia Hội đồng kỹ thuật xét duyệt nhiệm vụ thiết kế và phương án thi công công trình thuỷ lợi hồ chứa nước Sông Rộ, nằm trên địa bàn xã Võ Liệt - giải pháp tạo nguồn nước thủy lợi với dung tích 4 triệu mét khối nước, tưới cho đồng ruộng các xã Võ Liệt, Thanh Chi, Thanh Long huyện Thanh Chương. 

II. SỰ KIỆN LỊCH SỬ

54.    

Xô Viết Nghệ Tĩnh

Xô Viết Nghệ - Tĩnh là tên gọi chỉ phong trào đấu tranh của lực lượng công nhân và nông dân ở Nghệ An và Hà Tĩnh trong năm 1930-1931 chống lại đế quốc Pháp tại Việt Nam. Tên gọi Xô viết Nghệ Tĩnh xuất phát từ sự hình thành các "xã bộ nông" mà những người cộng sản gọi là "Xô viết"

55.    

 Ngày 1 tháng 9

Ngày truyền thống của Đảng bộ và Nhân dân Thanh Chương

III. ĐỊA DANH

56.    

Đức Phổ

Huyện kết nghĩa của Thanh Chương. Hiện nay ở thị trấn Đức Phổ đã có “Đường Thanh Chương”

57.    

Cát Ngạn

Một tổng của huyện Thanh Chương xưa, nay gọi là Cụm Cát Ngạn gồm 11 xã vùng thượng huyện.

58.    

Võ Liệt

Một tổng của huyện Thanh Chương, nơi đặt Phủ Huyện đường, Đình Võ Liệt, Đền Bạch Mã …

59.    

Hạnh Lâm

Có Đình làng Thượng nơi xuất phát phong trào Xô Viết.

60.    

Bích Hào

Một tổng của Thanh Chương xưa, nay là cụm Bích Hào gồm 8 xã từ Thanh Long đến Thanh Xuân.

61.    

Hòa Quân

Gồm các xã Thanh Hương, Thanh Lĩnh, Thanh Thịnh, Thanh An, Ngọc Lâm

62.    

Đại Đồng

Tổng của Thanh Chương xưa, nay là tên gọi của xã Đại Đồng sau khi sáp nhập 3 xã Thanh Hưng, Thanh Văn, Thanh Tường.

63.    

Xuân Lâm

Tổng của Thanh Chương xưa, nay là cụm Xuân Lâm gồm 6 xã từ Ngọc Sơn đến Thanh Khai.

 

 
 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
<<   <  1  2  3  4  5  >  >>  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu