Giới thiệu chung
Skip portletPortlet Menu
 
CƠ CẤU TỔ CHỨC
Skip portletPortlet Menu
 
tiềm năng thanh chương
Skip portletPortlet Menu
 
THÔNG TIN CHUNG
Skip portletPortlet Menu
 
Văn hóa Thanh Chương
Skip portletPortlet Menu
 
Liên kết website
Skip portletPortlet Menu
 
 
 
Thực hiện kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 (17/05/2011 07:43 AM)

A. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 5 NĂM 2006 - 2010

Năm năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXVIII trong điều kiện có nhiều thuận lợi: Công cuộc đổi mới đất nước tiếp tục giành được nhiều thành tựu quan trọng; Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế hợp lòng dân; huyện tiếp tục được sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp trên, nhất là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng… Bên cạnh đó cũng gặp nhiều khó khăn, thử thách: Tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu năm 2008 - 2009; điểm xuất phát kinh tế thấp; nhận thức, tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân chưa theo kịp tình hình, trình độ sản xuất, thâm canh, nhất là sản xuất hàng hoá hạn chế; giá cả nhiều mặt hàng tăng cao; thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng đến phát triển kinh tế-xã hội và tâm lý người sản xuất…

Phát huy thành quả đã đạt được, tiềm năng, lợi thế và truyền thống của quê hương, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ, điều hành của Chính quyền và sự phối hợp đồng bộ của các đoàn thể quần chúng, các ngành cùng với nỗ lực vươn lên của nhân dân nên chúnh ta đã giành được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực.

I.  NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:

1. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá và cghuyển dịch đúng hướng, sản xuất kinh doanh trong các ngành và các lĩnh vực tiếp tục phát triển.

Quán triệt quan điểm “phát triển kinh tế là trung tâm”, ngay từ những năm đầu UBND huyện đã xây dựng, tổ chức quán triệt sâu rộng, chỉ đạo tích cực thực hiện các Chương trình, Đề án về phát triển kinh tế như “phát triển đàn trâu bò hàng hóa”, “phát triển cây chè công nghiệp”, “phát triển cây sắn nguyên liệu”, “quy hoạch thị trấn, thị tứ, chợ nông thôn”, “khai thác vật liệu xây dựng”, “phát triển nguồn thu ngân sách”, "phát triển nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 2002 - 2010"…

Kinh tế phát triển khá toàn diện và đúng hướng; một số lĩnh vực phát triển nhanh; tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân của tỉnh; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông, thuỷ lợi tiếp tục được đầu tư xây dựng; các tiềm năng về đất đai, lao động đã được khơi dậy; sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển khá. Đã hình thành các vùng cây chuyên canh, gắn sản xuất với công nghiệp chế biến; thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh.

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm (2006 - 2010) là 18,0%. Trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 10,3%; CN - XD tăng 21,2%; dịch vụ tăng 23,15%, đạt mục tiêu Đại hội đề ra.

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực và đúng hướng: So với năm 2005 thì năm 2010, tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư từ 52,06% giảm xuống 36,3%; CN - XD tăng từ 20,67% lên 26.9%; Dịch vụ tăng từ 27,27% lên 36,8%;

1.1. Nông, Lâm, Ngư nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng rất lớn của thiên tai, dịch bệnh song với sự nỗ lực phân sđấu của cả hệ thống chính trị và nhiều cơ chế chính sách phù hợp, kịp thời nên vẫn có bước phát triển khá toàn diện và đúng hướng:

Tập trung lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá, đầu tư thâm canh vụ Xuân, mở rộng sản xuất Hè Thu, giảm diện tích lúa mùa, đẩy mạnh vụ Đông hàng hoá. ổn định diện tích lúa, mở rộng diện tích lạc vụ Xuân, ngô vụ Đông; tích cực vận động nhân dân đưa các giống mới vào sản xuất, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên năng suất, sản lượng, giá trị tăng cao. Đã xây dựng được vùng nguyên liệu tập trung như chè, sắn, nguyên liệu giấy,… chăn nuôi có bước chuyển theo hướng sản xuất hàng húa.

Sản lượng lương thực có hạt tăng từ 89.991 tấn năm 2005 lên 104.846 tấn năm 2010, tăng 16,5 % so với năm 2005.

Chỉ đạo tích cực thực hiện đề án phát triển cây chè. Tiến hành khảo sát lại diện tích, năng suất, sản lượng; tập trung trồng mới, đầu tư thâm canh tăng năng suất, ứng dụng nhanh tiến bộ kỹ thuật thu hái chè; trồng mới thêm 1.608,8 ha, đưa tổng diện tích chè hiện có 4.445,7 ha, trong đó 3.398,5 ha chè kinh doanh; năng suất chè búp tươi bình quân 105 tạ/ha, sản lượng đạt 32.770 tấn (năm 2010 do nắng hạn gay gắt nhiều vườn chè bị chết, năng suất chỉ đat 95 tạ/ha, nên sản lượng đạt 32.285,8 tấn). Giải quyết tốt mối quan hệ giữa vùng nguyên liệu và chế biến, giá bán sản phẩm nâng lên.

Cây sắn nguyên liệu tiếp tục phát triển. Tập trung chỉ đạo đưa nhanh giống cao sản vào sản xuất. Bố trí hợp lý đất trồng sắn, diện tích ổn định 2.900 - 3.000 ha; sản lượng tinh bột sắn năm 2010 đạt 26.800 tấn.  Phối hợp giải quyết tốt vấn đề môi trường nhà máy chế biến tinh bột sắn.

Cây lạc tăng khá, năm 2005 có 1.957 ha, năng suất 16,1 tạ/ha, sản lượng 3.151 tấn. Năm 2010 tương ứng có 2.105 ha, 23,3 tạ/ha, 4.896 tấn.

Kinh tế vườn và trang trại có nhiều tiến bộ. Toàn huyện  có 71 trang trại sản xuất hiệu quả khá; đã có nhiều gia đình sản xuất kinh doanh giỏi, thu nhập từ 50 - 70 triệu đồng/năm trở lên.

- Chăn nuôi phát triển cả về số lượng và chất lượng. Nét nổi bật là đã có sự chuyển hướng từ chăn nuôi truyền thống sang chăn nuôi hàng hoá; đã có một số trang trại, gia trại chăn nuôi đạt hiệu quả khá; việc chọn giống, tiêm phòng dịch bệnh được quan tâm hơn. Năm 2005 đàn trâu bò có 67.936 con, năm 2010 có 84.646 con, tăng bình quân hàng năm 4,5%. Đàn lợn năm 2005 có 91.214 con, năm 2010 có 118.040 con, tăng bình quân hàng năm 5,3%. Đàn hươu, dê tiếp tục phát triển, đàn gia cầm hàng năm có từ 1,3 - 1,5 triệu con, giá trị thu nhập từ chăn nuôi tăng nhanh. 

Đã đánh giá và chỉ đạo tiếp tục thực hiện đề án "phát triển nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 2002-2010". Phong trào nuôi cá tiếp tục phát triển, nhất là cá vụ Đông trên ruộng lúa, cá lồng trên sông, hồ.

- Lâm nghiệp: Đã tạo ra bước chuyển quan trọng về nhận thức từ trồng cây quảng canh, phủ xanh đất trống, núi trọc sang trồng rừng thâm canh, tạo sản phẩm hàng hóa, khoanh nuôi, bảo vệ, làm giàu vốn rừng. Diện tích rừng tập trung trồng mới đến năm 2010 là 10.719 ha; khoanh nuôi, phục hồi 16.400 ha. Độ che phủ rừng năm 2005 là 50,6%, năm 2010 đạt 55,2%.

Công tác quản lý Nhà nước về đất đai từng bước đi vào nề nếp, có nhiều tiến bộ. Các vụ tranh chấp đất đai trong huyện cơ bản được giải quyết.

1.2. Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và Xây dựng được quan tâm chỉ đạo:

Đã tạo ra bước chuyển quan trọng về nhận thức trong việc xây dựng, quản lý và thực hiện quy hoạch. Đã xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện đến năm 2020 được UBND tỉnh phê duyệt; công bố quy hoạch khu đô thị mới Thanh Thủy (2006), thị trấn Rộ và mở rộng thị trấn Thanh Chương (2008), các thị tứ  Phuống, Hạnh Lâm, Thanh Lĩnh, Rạng, khu công nghiệp nhỏ Thanh Ngọc (2009), hoàn thành quy hoạch mạng lưới điện thời kỳ 2005 - 2010 có tính đến năm 2020; quan tâm, tạo điều kiện phát triển các doanh nghiệp tư nhân…

Việc thu hút đầu tư được mở rộng: Xây dựng Nhà máy gạch tuy nen Thanh Ngọc; nâng cấp các nhà máy Gạch 30 - 4, Rào Gang, rú Nguộc; xây dựng nhà máy chè Trường Thịnh; nâng cấp nhà máy chè Hạnh Lâm, nhà máy chế biến tinh bột sắn; xây dựng Trung tâm thương mại Rộ; đang triển khai thực hiện dự án Nhà máy chế biến chè xuất khẩu Rồng Phương Đông, dự án xây dựng mẫu khu định cư làng chài trên sông Lam và vùng đặc biệt klhó khăn của huyện.

Quan tâm công tác đào tạo nghề và tổ chức hành nghề. Một số nghề như sản xuất đồ mộc cao cấp, sửa chữa cơ khí, điện tử, mây tre đan,… được đưa vào và phát triển. Việc tổ chức xây dựng làng nghề và làng có nghề đã được tập trung chỉ đạo, UBND tỉnh đã cụng nhận 5 làng nghề, UBND huyện đã cụng nhận 8 làng có nghề.

Sản phẩm công nghiệp tăng khá, như: Khai thác cát sạn năm 2005 đạt 520.000 m3, năm 2010 đạt 968.000 m3. Gạch nung năm 2005 đạt 30 triệu viên, năm 2010 đạt 75 triệu viên. Chè búp khô năm 2005 đạt 4.850 tấn, năm 2010 đạt 5.690 tấn.

Các phương tiện như máy cày đa chức năng, ô tô vận tải hàng hóa, hành khách, máy bơm, máy tuốt lúa, máy gặt, máy hái chè,…phục vụ cơ giới hóa sản xuất tăng nhanh.

Tập trung huy động nội lực, vừa trả các khoản nợ vay vừa kết hợp với nguồn ngoại lực để tiếp tục đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Thường xuyên bám chắc và chỉ đạo thực hiện các công trình trọng điểm theo Nghị quyết Đại hội XXVIII và các dự án đầu tư: Nâng cấp, mở rộng tỉnh lộ 533 từ Thanh Thịnh đi Nam Lộc; nâng cấp Quốc lộ 46 từ cầu Rộ lên Thị trấn; xây dựng các trục đường ngang nối tỉnh lộ 533 với đường Hồ Chí Minh từ Phuống đi Thanh Mai, từ Thanh Tùng qua hồ Cửa Ông nối đường Hồ Chí Minh; xây dựng trạm khám bệnh đa khoa Bích Hào; nâng cấp bệnh viện đa khoa, nâng cấp Nghĩa trang Liệt sĩ huyện, hồ trung tâm Thị trấn; nâng cấp 7 hồ đập và hệ thống mương cấp 1 vùng hữu ngạn; xây dựng đập Triều Dương; tiếp nhận chương trình kiên cố hóa trường, lớp học từ nguồn trái phiếu Chính phủ; trùng tu đình Võ Liệt, đền Bạch Mã, nâng cấp Đài TT - TH, Trung tâm Văn hóa - TT - TT huyện,…Nhiều công trình đã phát huy tốt hiệu quả.

Đang tiếp tục triển khai một số công trình quan trọng như đường từ chợ Chùa đi Thanh Đức, nối đường Hồ Chí Minh, đường nối Quốc lộ 46 từ Thanh Đồng, đi Thanh Phong, Tràng Minh và một số tuyến đường trong quy hoạch phát triển giao thông…

Tổng số vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong 5 năm là 2.149 tỷ đồng. Giá trị sản xuất ngành Công nghiệp - Xây dựng tăng bình quân hàng năm 21,2%, trong đó CN - TTCN tăng bình quõn 17,73%, xây dựng tăng 24,8%. 

1.3. Thương mại dịch vụ tiếp tục phát triển: 

Củng cố, xây dựng hệ thống chợ nông thôn, mạng lưới dịch vụ thương mại nhiều thành phần được mở rộng. Dịch vụ Bưu chính - viễn thông phát triển nhanh. Xây dựng mới 13 chợ, mở thêm 2 chợ và khu thương mại Rộ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội tăng bình quân 17,05%/năm. Năng lực vận tải đường bộ nâng lên đáng kể. Khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng 33,5% và hành khách luân chuyển tăng 19,5%. Doanh thu tăng bình quân 21,15%; các xã, thị trấn đều có điểm Bưu điện văn hóa, có báo đọc trong ngày. Mạng Internet, sóng điện thoại di động phát triển nhanh, dịch vụ tài chính phục vụ thỏa mãn nhu cầu sản xuất và đời sống. 

 

1.4.  Hoạt động tài chính, tín dụng được mở rộng và phát triển:

Chỉ đạo xây dựng và tích cực thực hiện đề án “mở rộng và phát triển nguồn thu ngân sách”. Quản lý thu, chi công khai, tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng; đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, thực hiện các cơ chế khuyến khích phát triển đã được HĐND huyện ban hành, phục vụ hoạt động của hệ thống chính trị, hỗ trợ các tổ chức xã hội nghề nghiệp, thực hiện đầy đủ chế độ chính sách cho cán bộ, viên chức. Thu ngân sách năm 2005 đạt 12,8 tỷ đồng, năm 2010 đạt 43,15 tỷ đồng. Tốc độ tăng thu ngân sách bình quân hàng năm 27,5%. Các hình thức dịch vụ thanh toán, chuyển tiền được mở rộng. Huy động vốn ngân hàng và tổng dư nợ trên địa bàn liên tục tăng. Vốn huy động năm 2005 là 202,87 tỷ, dự ước năm 2010 là 760 tỷ đồng, tăng bình quân 30,2 tỷ/năm. Tổng dư nợ năm 2005 là 194,23 tỷ, dự ước năm 2010 là 609 tỷ đồng, tăng bình quân 25,65%/năm.

Trong nhiệm kỳ, nhiều con em đang sinh sống, công tác ngoài huyện về giúp đỡ quê hương dưới nhiều hình thức, trong đố riêng số tiền gửi qua Ngân hàng, Bưu điện mỗi năm từ 120 tỷ đến hơn 200 tỷ đồng.

2. Về phát triển văn hoá xã hội

2.1. Giáo dục và Đào tạo tiếp tục được phát riển:  Đã tập trung chỉ đạo sắp xếp, ổn định mạng lưới trường lớp hợp lý, đúng định hướng. Từng bước chuyển các trường THPT bán công sang trường công lập. Tích cực xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia. Chỉ đạo sắp xếp hợp lý và cơ bản chuẩn hóa đội ngũ giáo viên. Thực hiện có chất lượng các cuộc vận động và các phong trào do Bộ Giáo dục phát động. Chất lượng dạy và học được củng cố và tăng lên. Triển khai tốt chương trình kiên cố hóa trường, lớp học từ nguồn trái phiếu Chính phủ, cơ sở vật chất được tăng cường. Công tác xã hội hoá giáo dục, khuyến học, khuyến tài được triển khai sâu rộng. Số học sinh giỏi tỉnh hàng năm có tỷ lệ cao so với các huyện trong tỉnh. Chất lượng phổ cập giáo dục được giữ vững. Học sinh thi đậu vào các trường Đại học và Cao đẳng tăng lên hàng năm. Có 45 trường học các công nhận đạt chuẩn Quốc gia, đạt tỷ lệ 35%; ngành Giáo dục huyện liện tục được công nhận đơn vị tiên tiến xuất sắc của tỉnh.

2.2. Hoạt động Văn hoá thông tin khá sôi nổi và lành mạnh:

Lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và thực hiện đề án "Xây dựng thiết chế văn hoá - thông tin - thể thao đồng bộ và phát triển đời sống văn hoá cơ sở"; các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nếp sống văn hoá, gia đình văn hoá, đơn vị văn hoá phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Năm 2005, tỷ lệ gia đình văn hoá là 72%, năm 2010 là 76%. Tiến hành trùng tu, tôn tạo, phát huy nhiều di tích lịch sử trên địa bàn. Phong trào “Toàn dân rèn luyện thể thao theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã thu hút mọi lứa tuổi tham gia với tinh thần “mỗi người tự chọn cho mình một môn thể thao phù hợp”. Các môn thể dục, thể thao quần chúng phát triển rộng khắp. Tỷ lệ người luyện tập thường xuyên năm 2005 đạt 19,7%, năm 2010 đạt 30%; tỷ lệ gia đình thể thao năm 2005 đạt 11,2%, năm 2010 đạt 19,5%.

Đài Truyền thanh truyền hình huyện được nâng cấp, tăng kênh phát và diện phủ sóng, có nhiều chương trình thiết thực phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của địa phương; 38/40 xã đã xây dựng được Đài truyền thanh cơ sở, hoạt động hiệu quả.

2.3. Công tác Y tế - Dân số - Gia đình và Trẻ em đạt nhiều kết quả tốt:

 Quan tâm chỉ đạo cung cố các cơ sở khám chữa bệnh từ huyện đến xã; tích cực cho đi đào tạo và tiếp nhận bác sĩ; phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm; xây dựng xã chuẩn quốc gia y tế...Y đức người thầy thuốc, chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên. Từ năm 2005 đến 2010, tỷ lệ trạm xá có bác sĩ tăng từ 55,26% năm 2005 lên 100% năm 2010; tỷ lệ trạm y tế có nữ hộ sinh trung học hoặc y sĩ sản khoa tăng từ 53,5% lên 89,5%. Có 35/40 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

 

Công tác truyền thông sức khoẻ, dân số được thực hiện rộng rãi. Mức giảm sinh hàng năm đạt 0,2‰; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm 7,5‰. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ 29,2% năm 2005 xuống 19% năm 2010; có 98,5% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng mở rộng 6 loại vacxin hàng năm. Thực hiện tốt chương trình chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, thiệt thòi, tật nguyền. Tổ chức nhiều loại hình hoạt động, các câu lạc bộ lồng ghép về lĩnh vực gia đình.

2.4. Lao động, việc làm - XĐGN và các chính sách xã hội được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ:

Chỉ đạo tốt hoạt động dạy nghề, tìm kiếm thị trường lao động, giải quyết việc làm; đẩy mạnh công cuộc XĐGN; thực hiện chính sách đối với người có công và các đối tượng hưởng chính sách xã hội. Giải quyết việc làm hàng năm cho 3.200-3.500 lao động. Phong trào “vì người nghèo”, "đền ơn đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", các cuộc vận động nhân đạo, từ thiện được thực hiện rộng rãi, hiệu quả. Giải quyết cơ bản những tồn đọng về chính sách đối với người có công như bộ đội phục viên, xuất ngũ, thanh niên xung phong, nạn nhân chất độc da cam,... Thu nhập bình quân/người/năm năm 2005 là 6,49 triệu, năm 2010 đạt 14,11 triệu đồng, tăng hơn gấp hai lần năm 2005. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 là 29,78%, năm 2010 còn 11,57%.

3. Công tác xây dựng chính quyền, cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại tố cáo, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm có chuyển biến tích cực:

Hoạt động của HĐND các cấp có những đổi mới, nâng cao chất lượng của đại biểu hội đồng. Tổ chức nghiêm túc việc tiếp xúc cử tri, tiếp thu và xử lý kịp thời các ý kiến, nguyện vọng chính đáng của cử tri; khẳng định rõ vai trò của mình trong hoạt động giám sát; chất lượng các kỳ họp được nâng cao. Các Nghị quyết của HĐND được ban hành kịp thời, sát với thực tế địa phương và thực hiện có hiệu quả. Việc chất vấn, đối thoại được thực hiện nghiêm túc, thẳng thắn, thiết thực.

UBND các cấp đã bám sát các chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ và HĐND để cụ thể hoá thành các chương trình, đề án, kế hoạch, tham mưu các chính sách, giải pháp để thực hiện. Việc chỉ đạo, điều hành được cải tiến, phân công và xác định rõ trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân; phát huy tính chủ động, sáng tạo theo hướng tập trung, dứt điểm, hiệu quả.

Chỉ đạo tích cực việc tiếp nhận, ổn định đời sống đồng bào tái định cư thủy điện Bản Vẽ. Kịp thời triển khai kiện toàn bộ máy của hai xã mới Thanh Sơn và Ngọc Lâm theo Nghị định 07 NĐ/CP của Chính phủ.

Tích cực cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, nhanh gọn, thuận lợi, giảm bớt phiền hà cho nhân dân. Cải tiến việc điều hành, phân công cụ thể cho mỗi phòng, ngành, lĩnh vực; tăng cường chỉ đạo cơ sở; tiếp tục tiếp nhận sinh viên về công tác, xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ, có năng lực chuyên môn, năng lực thực tiễn, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền từ huyện đến cơ sở. Hiệu quả bộ máy chính quyền được nâng lên. Chất lượng phục vụ của các Trung tâm giao dịch một cửa có chuyển biến tốt. Năng lực và trình độ của cán bộ công chức từ huyện xuống cơ sở từng bước được chuẩn hoá. Thủ tục hành chính được đơn giản hoá, một số cơ quan đã được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn ISO  9001 - 2008.

Quy chế dân chủ cơ sở được thực hiện rộng rãi. Công tác tiếp dân được quan tâm tốt nên đã hạn chế được đơn thư vượt cấp. Công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí được đẩy mạnh.

4. Công tác quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị xã hội ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.

Thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng khu vực phũng thủ, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng cơ sở ATLC - SSCĐ; tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ huyện đạt kết quả tốt; tích cực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Thực hiện tốt việc khám tuyển, giao quân, tuyển sinh quân sự, có 1.660 thanh niên nhập ngũ, 1.476 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, góp phần xây dựng các đơn vị chủ lực quân đội. Thực hiện tốt chớnh sách hậu phương quân đội. Lãnh đạo thực hiện tốt đề án “3 yên, 3 giảm”, đề án “đảm bảo an ninh trường học”,…; đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, nhất là ma túy và tai nạn giao thông; kiên trì, tích cực giải quyết vấn đề an ninh tôn giáo, không để bất ngờ và xẩy ra điểm nóng; chất lượng điều tra, đấu tranh, truy quét, xử lý tội phạm được nâng lên. Quốc phòng an ninh được tăng cường, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để phát triển.

Cơ chế phối hợp giữa Công an, Quân sự, Biên phòng với MTTQ, các đoàn thể  được phát huy có hiệu quả. Xây dựng tốt mối quan hệ với huyện Xay Chăm Pon của nước bạn Lào, quan tâm khu vực tái định cư Bản Vẽ, bảo đảm an ninh biên giới và an ninh vùng dân tộc thiểu số.

II. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT

Năm năm qua, kinh tế - xã hội của huyện có bước phát triển khá nhanh và toàn diện. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tiến bộ theo hướng CNH, HĐH. Hầu hết chỉ tiêu Đại hội XXVIII đề ra đều đạt và vượt. Kết cấu hạ tầng tiếp tục được đầu tư phát triển; văn hoá xã hội có những chuyển biến tích cực; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, đời sống của nhân dân được nâng lên đáng kể.

Tuy vậy, tốc độ chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế chưa bền vững, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của huyện; kinh tế hộ, kinh tế hợp tác, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề còn yếu; chất lượng hoạt động văn hoá-xã hội chưa tương xứng với truyền thống và yêu cầu của sự phát triển; lao động thiếu việc làm còn lớn; các tai, tệ nạn xã hội gia tăng;; đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn. Năng lực điều hành của các cấp chính quyền, nhất là chính quyền một số cơ sở còn bất cập với yêu cầu. Thanh Chương vẫn là huyện nền kinh tế kém phát triển, nguồn thu ngân sách còn bất cập, mất cân đối lớn.


B. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ GIAI ĐOẠN 2010-2015

- Trong 5 năm tới, tình hình quốc tế và trong khu vực vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố dễ gây mất ổn định; tuy nhiên hòa bình, hợp tác cùng phát triển là xu thế của thời đại. Nước ta hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế đã và đang đặt đất nước trước những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức lớn. Nghệ An quyết tâm tạo bước đột phá để phát triển nhanh, phấn đấu cơ bản thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020, trở thành một trong những tỉnh khá của cả nước, đặt ra yêu cầu phát triển, tăng trưởng cao cho các huyện, thành, thị.

- Bước vào giai đoạn 2011-2015 Thanh Chương có những thuận lợi cơ bản: Những định hướng về phát triển kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 3335/QĐ-UBND ngày 15/7/2009; đề án về thành lập khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy, cùng một số chương trình, dự án lớn trong công nghiệp, xây dựng, giao thông trên địa bàn huyện đã được tỉnh đưa vào quy hoạch; tiềm năng đất đai, lao động và nguồn lực con em quê hương ngoại huyện còn lớn; cơ sở hạ tầng kỹ thuật , nhất là giao thông, thủy lợi được đầu tư của các nhiệm kỳ trước đã phát huy và đang tạo ra cho huyện những cơ hội mới. Tuy nhiên, khó khăn, thách thức đối với huyện vẫn còn nhiều : Nền kinh tế đang ở trình độ thấp kém, cơ cấu tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp còn cao, tỷ trọng công nghiệp xây dựng, dịch vụ còn thấp; kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ; thiên tai, dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, khó lường; là huyện đất rộng, người đông nhưng tài nguyên khoáng sản ít, không nằm trong các vùng và cực tăng trưởng của tỉnh nên thu hút đầu tư khó khăn.

- Từ đặc điểm trên, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Thanh Chương phải đoàn kết, đồng thuận, đồng tâm, hợp lực, quyết tâm khắc phục bằng được tư tưởng bảo thủ, ngại khó, hẹp hòi, những yếu kém, khuyết điểm trong giai đoạn vừa qua; đổi mới mạnh mẽ tư duy; chủ động tận dụng tốt mọi cơ hội, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khúa XXIX.

- Tiếp tục đổi mới toàn diện, tập trung khai thác mọi nguồn lực và lợi thế của huyện, tranh thủ sự hỗ trợ bên ngoài, ưu tiên đầu tư cho tăng  trưởng kinh tế, tạo bước đột phá, phát triển nhanh hàng hóa, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng : Tăng nhanh tỷ trọng ngành dịch vụ thương mại và ngành công nghiệp xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản. Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, nâng cao dân tró, đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, giữ vững quốc phòng - an ninh. Phấn đấu đưa Thanh Chương trở thành huyện vững mạnh toàn diện của vùng Tây Nam Nghệ An vào năm 2015.

I. CÁC MỤC TIÊU CHỦ YẾU

1. Về kinh tế.

- Nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm: 14-14,5%.

- Cơ cấu kinh tế:

+ Dịch vụ: 36-37%;

+ Công nghiệp - xây dựng: 30-31%;

+ Tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp: 34-32%.

- Thu ngân sách trên địa bàn theo giá hiện hành: 65-70 tỷ đồng.

- Thu nhập bình quân đầu người/năm: 1.200 USD.

- Tổng sản lượng lương thực hàng năm: 100.000 - 110.000 tấn

- Thu nhập bình quân/ha đất canh tác nông nghiệp: 50 triệu đồng.

- Cây công nghiệp.

+ Cây chè: ổn định diện tích 5.000 ha; sản lượng chè búp tươi: 55.000 tấn; sản lượng chè búp khô:  12.000 tấn.

+ Cây sắn: ổn định diện tích 3.000 ha; sản lượng củ tươi: 140.000 tấn; sản lượng tinh bột: 30.000 tấn.

+ Cây lạc: ổn định diện tích 2.000 ha; sản lượng 6.120 tấn.

- Lõm nghiệp:

+ Trồng rừng tập trung: 7.500 ha.

+ Độ che phủ rừng: 60%.

- Chăn nuôi.

+ Tỷ trọng giá trị thu nhập từ chăn nuôi trong nội ngành nông nghiệp: 47-48%.

+ Tổng đàn trâu, bò: 110.000 con.

+ Tổng đàn lợn: 146.000 con.

+ Diện tích nuôi trồng thuỷ sản: 1.700 ha.

- Công nghiệp:

+ Sản xuất gạch nung và gạch không nung: 120-130 triệu viên/năm.

2. Văn hóa - xã hội:

- Giữ vững phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, tiếp tục phổ cập THCS.

- Trường đạt chuẩn Quốc gia: 60%.

- Kiên cố hoá trường học: 100%.

- Xây dựng trường THPT Thanh Chương I trở thành đơn vị Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

- Tỷ lệ gia đình văn hoá 83%.

- Tỷ lệ làng, khối, bản văn hoá: 60%.

- Cơ quan, đơn vị văn hoá: 85%.

- Xã, thị trấn có Thiết chế văn hoá - TT-TT đạt chuẩn quốc gia: 60%.

- Giải quyết việc làm hàng năm cho người lao động: 2.500 người.

- Lao động trong độ tuổi qua đào tạo: trên 50%.

- Tỷ lệ hộ nghèo: 5-6%.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 8%o

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng: 15%

- Xã đạt chuẩn quốc gia về Y tế: 100%

- Tỷ lệ dân nông thôn được dụng nước sinh hoạt: 60% (theo tiêu chuẩn số 51/BNN của Bộ Nông nghiệp & PTNT); 35% (theo tiêu chuẩn số 02/BYT của Bộ Y tế); 98% dân số đô thị được dụng nước sạch.

- Xã có đài truyền thanh cơ sở: 100%.

- Hộ dân được dùng điện lưới quốc gia: 100%

- Xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới: 8-10 xã.

3. Quốc phòng, an ninh:

- Tuyển quân, giao quân, huy động quân dự bị hàng năm: 100%.

- Xã, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, trường học đạt khá, tốt về “Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc”: 85%.

- Xã, thị trấn đạt Cơ sở an toàn làm chủ - Sẵn sàng chiến đấu vững mạnh: 100%; đạt vững mạnh toàn diện: 85%.

- Cơ quan Quân sự, Công an và các ngành Tư pháp hàng năm đạt trong sạch vững mạnh.

II.  NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU

1. Về phát triển kinh tế

1.1. Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Tiếp tục tổ chức thực hiện Nghị quyết hội nghị TW7 (khúa X) về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tập trung triển khai hiệu quả vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất lần hai gắn với quy hoạch đồng bộ mạng lưới giao thông nông thôn, giao thông nội đồng; hệ thống tưới tiêu thủy lợi; cơ sở hạ tầng điện, thông tin, trường học, trạm y tế, hoạt động văn hóa thể thao; các thị trấn, thị tứ, chợ nông thôn, khu công nghiệp, cụm dân cư theo hướng hiện đại, tạo điều kiện cho việc bố trí lại sản xuất, thực hiện cơ giới hóa, phát triển nhanh mô hình kinh tế trang trại, gia trại, thương mại, dịch vụ để tăng nhanh giá trị, hiệu quả thu nhập trờn ha canh tác, phát triển nông nghiệp bền vững và phát triển nông thôn mới.

- Sản xuất lương thực : Quy hoạch ổn định diện tích lúa chủ động nước 2 vụ 13.000 ha (8.00 ha lúa Xuân, 5.000ha lúa Hè Thu); diện tích ngô 6.000ha; tập trung thâcanh, đầu tư cân đối, ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật về giống, từng bước đưa cơ giới vào sản xuất các khâu làm đất, gieo cấy, thu hoạch, chế biến và bảo quản để tăng nhanh năng suất, đảm bảo ổn định sản lượng lương thực hàng năm. Chuyển những diện tích trồng lúa, màu kém hiệu quả sang khuyến khích các hộ dân đầu tư phát triển mô hình trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung quy mô vừa và nhỏ hoặc chuyển đổi trồng cây trồng khác có hiệu quả cao hơn, bền vững hơn để tăng nhanh giá trị và cải tạo đất. Đến 2015, giá trị thu nhập một ha canh tác đạt 50 triệu đồng. Nhanh chóng ổn định và phát triển sản xuất ở 2 xã tái định cư.

- Cây công nghiệp : Quy hoạch mở rộng, ổn định 5.000 ha chè kinh doanh, 3.000 ha sắn nguyên liệu, 2.000 ha lạc. Tập trung thâm canh, đầu tư phát triển thủy lợi để tưới, đưa nhanh các giống mới có tiềm lực năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt vào thay thế dần các giống cũ năng suất thấp, năng suất đã tột trần; thực hiện trồng xen cây họ đậu để cải tạo đất, tạo tán che cho chè; thí điểm mô hình trồng xen trám ghép vào các đồi chè, vườn chè để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Phấn đấu đạt 55.000 tấn chè búp tươi, 140.000 tấn sắn củ, 6.120 tấn lạc vỏ. Quy hoạch một số diện tích đất rừng, giá trị hiệu quả kinh tế thấp sang trồng 1.000 ha cây cao su.

- Cây lâm nghiệp : Phát huy trách nhiệm vai trò chính quyền các cấp, các chủ rừng, bảo vệ, phát triển tốt diện tích rừng phòng hộ để tạo hệ sinh thái bền vững; tiếp tục thực hiện tốt trồng và chăm súc diện tích rừng sản xuất thuộc các dự án và cây nguyên liệu giấy, chuyển số diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt sang trồng cây nguyên liệu giấy, kết hợp trồng rừng kinh tế với trồng song mây, chống xúi mòn, làm nguyên liệu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; kết hợp khai thác với trồng lại hợp lý để nâng cao hiệu quả. Đồng thời quan tâm quản lý tốt công tác phòng chống cháy rừng.

- Chăn nuôi:  Tập trung đẩy mạnh phát triển cả số lượng và chất lượng chăn nuôi đại gia súc, trọng tâm vào khuyến khích các hộ đầu tư phát triển nhanh mô hình trang trại, gia trại chăn nuôi bò, lợn theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp quy mô vừa và nhỏ; kêu gọi các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng trại chăn nuôi bò thịt, bò sữa tại Thanh Xuân, Cát Văn, trại chăn nuôi lợn thịt tại Thanh Ngọc; phát động mỗi hộ nông nghiệp nuôi từ 2-3 con trâu, bo, 3-4 con lợn. Phấn đấu đến 2015, tổng đàn trâu bò đạt 110.000 con, đàn lợn đạt 150.000 con, các xã đều có trang trại chăn nuôi trâu, bò, lợn đạt chuẩn. Khuyến khích đẩy mạnh phát triển chăn nuôi  hươu, dê.

Có cơ chế chính sách khuyến khích nuôi cá lồng, bè trên sông, hồ đập; tận dụng tối đa mặt nước ao, hồ hiện có; chuyển số diện tích ruộng thấp trũng, sản xuất hiệu quả thấp cải tạo để nuôi thủy sản; quy hoạch hợp lý diện tích nuôi cá vụ Đông trên ruộng lúa; tập trung đầu tư nõng cao năng suất, sản lượng, giá trị thu nhập. Phấn đấu đạt 1.700 ha nuôi trồng, 4.000 tấn sản phẩm.

- Xây dựng nông thôn mới : Từng bước quy hoạch giải quyết đồng bộ giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa, khu vui chơi thể thao, nghĩa địa ở các xã, thị trấn, xóm, khối, bản; đẩy nhanh tiến độ đô thị hóa. Phấn đấu cuối nhiệm kỳ 8 -10 xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Xúc tiến nhanh dự án xây dựng làng mẫu tái định cư cho dân vạn chài trên sông Lam.

Làm tốt công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch sử dụng đất để phát huy tốt hiệu quả sử dụng gắn với bảo vệ tốt môi trường sinh thái trong lành. Tập trung trọng tâm quy hoạch phát triển kinh tế, dịch vụ tổng hợp quỹ đất dọc tuyến đường Hồ Chí Minh; vùng kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy; các trung tâm đô thị, thị trấn đã được quy hoạch.

1.2. Công nghiệp - xây dựng

Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp của tỉnh, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng tây nam Nghệ An. Chủ động quy hoạch, kêu gọi đầu tư phát triển nhanh, mạnh công nghiệp, thủ công nghiệp một cách hiệu quả và bền vững gắn với bảo vệ môi trường, hội nhập quốc tế và hợp tác với các huyện trong và ngoài vùng; tập trung trọng tâm vào công nghiệp chế biến, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, chăn nuôi đại gia súc gắn với chế biến sản phẩm từ chăn nuôi để tạo đột phá cho tăng trưởng của huyện. Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng công nghiệp bình quân 5 năm 2011 - 2015 từ 15-17%.

Trước mắt đẩy nhanh thi công nhà máy chế biến chè chất lượng cao Thanh Đức; kiến nghị Công ty đầu tư phát triển chè Nghệ An đầu tư nâng cấp dây chuyền chế biến chè Thanh Mai; quản lý chặt chẽ các xưởng chế biến chè hộ gia đình đảm bảo thu mua hết sản phẩm chè búp tươi cho các hộ dân; khắc phục tình trạng lúc thì tranh mua, lúc thì thả nổi vô trách nhiệm đối với người trồng chè. Kiên quyết xóa bỏ các xưởng chế biến chè chưa có giấy phép kinh doanh, thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ Nhà nước để đảm bảo sự công bằng, cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất kinh doanh theo pháp luật.

Tiếp tục kêu gọi đầu tư xây dựng trại chăn nuôi gắn với chế biến bò thịt, bò sữa tại Thanh Xuân, Cát Văn; trại chăn nuôi lợn hướng nạc tại Thanh Ngọc; dây chuyền khai thác cát sạn và sản xuất gạch không nung tại Thị trấn, Thanh Đức; nhà máy sản xuất gạch, ngói dọc tuyến sông Gang tại các xã Thanh Lương, Thanh Khai, Thanh Dương, Ngọc Sơn, Thanh Ngọc, Thanh Đồng, Thanh Chi, Cát Văn, Phong Thịnh, Thanh Thịnh, đồng thời kiến nghị, tạo điều kiện nâng công suất Công ty cổ phần gạch ngói Rào Gang, Rú Nguộc, phấn đấu đạt sản lượng 120-130 triệu viên/năm. ổn định sản lượng tinh bột sắn 30.000 tấn/năm.

Tích cực kiến nghị với tỉnh xúc tiến đầu tư, nâng cấp, mở rộng phạm vi phục vụ nước sạch của Nhà máy nước Thị trấn; tìm kiếm đối tác đầu tư xây dựng nhà máy nước tại các xã dọc sông Lam; du nhập và phát triển nhanh các làng có nghề, làng nghề tạo ra công ăn việc làm tại chỗ ở những xã có lợi thế, đất đai ít; phấn đấu xây dựng 3-5 làng nghề, 7-8 làng có nghề.

Gắn với triển khai cuộc vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất, quy hoạch, đồng bộ mạng lưới giao thông nông thôn, giao thông nội đồng; tổ chức vận động nhân dân đóng góp ngày công đắp hoàn chỉnh nền đường, tận dụng tối đa các cơ chế, chính sách của TW, tỉnh, huyện, thu hút các nguồn lực bên ngoài với sức đúng góp của nhân dân từng bước nhựa hóa, bê tông hóa các trục đường liên xã, liên thôn, đường sản xuất nguyên liệu, cấp phối hóa các trục đường nội đồng để thực hiện công nghiệp hóa, cơ giới hóa. Phấn đấu đến 2015, 40% đường liên xã, liên thôn được rải nhựa hoặc bê tông, đường nội đồng được cấp phối.

Tranh thủ sự đầu tư của TW, của tỉnh, các chương trình, dự án của Chính Phủ, của các tổ chức nước ngoài, phi chính phủ, với sự đóng góp ủng hộ của nhân dân, trích một phần nguồn ngân sách cấp quyền sử dụng đất của huyện tập trung đầu tư xây dựng 10 công trình trọng điểm:

- Nâng cấp đoạn đường quốc lộ 46 từ thị trấn đi Đô Lương lên quy mô đường cấp 4.

- Nâng cấp mặt đường tỉnh lộ 533 đoạn Cát Văn về ngã ba Thanh Lĩnh lên quy mô đường cấp 5, đoạn qua Thị trấn, Thị tứ mở rộng quy mô đường đô thị.

- Xây dựng cầu treo Rạng.

- Nâng cấp và rải nhựa các trục đường ngang nối quốc lộ 46 đi quốc lộ 15A; tỉnh lộ 533 đi đường Hồ Chí Minh. Trọng tâm các tuyến : Từ quốc lộ 46 đi Ngọc Sơn, Nam Hưng; quốc lộ 46 đi Xuân Tường, Nam Hưng; tỉnh lộ 533 đi Thanh Chi, Thanh Khê nối đường Hồ Chí Minh; tỉnh lộ 533 đi Thanh Thịnh, nối đường Hồ Chí Minh; tỉnh lộ 533 đi Thanh Lâm, Sơn Tiến; quốc lộ 46 đi Thanh Dương, Nam Thanh và các tuyến đường phục vụ nguyên liệu chè, nguyên liệu giấy, cho sự phát triển du lịch sinh thái lâu dài và phát triển các Thị trấn, Thị tứ nằm trong quy hoạch, từ chợ Ba Bến đi Thanh Hương nối đường Hồ Chí Minh.

- Từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị Rộ để sớm thành lập thị trấn Rộ.

- Xây dựng công trình chống hạn, chống lũ Cầu Nậy, Cầu Kho vùng Bích Hào; các hệ thống thủy lợi tưới cho màu và cây công nghiệp; nâng cấp các tuyến đê địa phương, các hồ đập, nạo vét sông Gang, đường cứu hộ, cứu nạn.

-Triển khai thực hiện kiên cố hóa trường học và xây dựng trường chuẩn quốc gia; nâng cấp trạm y tế xã, xây dựng trụ sở các xã, thị trấn khang trang.

-Triển khai dự án nâng cấp, tôn tạo khu di tích Đền Bạch Mã; xây dựng các bia dẫn tích, tượng đài cuộc biểu tình 01/9/1930 tại Rộ.

- Xúc tiến lập dự án xây mới cầu cứng tại bến Quyết Thắng – Thanh Lĩnh; làm cầu cứng thay thế cầu treo sông Giăng.

- Lập dự án xây dựng bến đò Phuống, đò  Cung.

1.3. Dịch vụ và thương mại

Có cơ chế, chính sách, giải pháp đồng bộ thu hút đầu tư đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển mạnh các ngành dịch vụ, tạo ra giá trị cao, giải quyết nhiều việc làm, tăng thu ngân sách, đạt mức tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng giá trị tăng thêm của nền kinh tế trong suốt thời kỳ 2011-2015, phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân 5 năm 16,5% năm. Phát triển dịch vụ gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn và phát huy các giá trị đạo đức, truyền thống văn hóa, hài hòa lợi ích kinh tế với ổn định chính trị xã hội, quốc phòng - an ninh. Phấn đấu đưa Thanh Chương từng bước trở thành một trung tâm giao dịch thương mại, bán buôn, bán lẻ lớn của vùng Tây Nam Nghệ An.

Chủ động đón đầu, đẩy nhanh phát triển khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy tổng hợp đa ngành, đa chức năng, đa lĩnh vực : công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, đô thị và nông lâm kết hợp, tạo thành đầu mối xuất, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, vận chuyển hàng hóa quá cảnh của Việt Nam – Lào và các nước thứ ba khi cửa khẩu Thanh Thủy trở thành cửa khẩu Quốc tế.

Tập trung triển khai điều chỉnh địa giới hành chính, mở rộng thị trấn Thanh Chương; thu hút đầu tư phát triển nhanh khu đô thị Rộ, Thanh Thủy và các thị tứ đã được phê duyệt; đẩy nhanh phát triển trung tâm thương mại Rộ. Xúc tiến quy hoạch khu đô thị Chợ Chùa và các thị tứ theo quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ, hình thành các điểm tập trung dân cư mới với quy mô và mức độ phù hợp dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, đường tỉnh lộ 533, quốc lộ 46.

Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế nhất là tư nhân đầu tư vào phát triển nhanh, mạnh các loại hình dịch vụ : vận tải, bưu chính viễn thông, nhà hàng, nhà nghỉ, điện dân dụng, sửa chữa điện tử, khám chữa bệnh, tư vấn, lao động, tìm kiếm thị trường, thu mua, bao tiêu sản phẩm cho nông dân.

Tiếp tục hoàn thành thủ tục kêu gọi đầu tư phát triển nhanh khu du lịch sinh thái hồ sông Rộ để sớm hình thành và phát triển tuyến du lịch đình Võ LIệt, đền Bạch Mã, cửa khẩu Thanh Thủy, thủy điện Thác Muối nằm trong tua du lịch Cửa Lò – Vinh – Quê Bác của tỉnh.

Có chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tiến độ đô thị hóa để mở rộng, phát triển nguồn thu. Làm tốt công tác tuyên truyền để mỗi người dân tự giác thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời. Mở rộng đa dạng các hình thức tín dụng để huy động hết nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân đầu tư cho phát triển. Phấn đầu đến năm 2015 : tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ trên địa bàn đạt 1.200 tỷ đồng, giá trị sản xuất thương mại (theo giá so sánh 1994) đạt 350 tỷ đồng, giá trị gia tăng ngành thương mại (theo giá so sánh 1994) đạt 215 tỷ đồng, tăng bình quân 17%/năm giai đoạn 2011-2015; nâng dần tỷ lệ vốn cho vay trung hạn và dài hạn lên trên 50% phục vụ cho đầu tư phát triển; đưa Internet đến 100% các điểm bưu điện văn hóa xã và các trung tâm giao dịch cộng đồng.

Tăng cường vai trò quản lý của chính quyền đối với công tác bảo vệ tài nguyên, khoáng sản, môi trường, xử lý rác thải.

2. Văn hóa - xã hội

2.1. Phát triển giáo dục đào tạo và dạy nghề

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đồng bộ ở các cấp học, bậc học; tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện; thực hiế sâu rộng xã hội hóa giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục văn húa với giáo dục hướng nghiệp cho học sinh; khắc phục bằng được bệnh thành tích, vi phạm đạo đức nhà giáo, học lệch, học ngoại ngữ thiếu hệ thống, giáo viên thiếu cân đối và thu chi tùy tiện ở các trường.

Tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập tiểu học, phổ cập THCS đúng độ tuổi; đẩy mạnh xây dựng trường chuẩn Quốc gia, kiên cố hóa trường, lớp học để đến 2015 hệ thống trường học được kiên cố hóa 100%, 50% trường mầm non, 85% trường tiểu học, 50% trường THCS, 57% trường THPT đạt chuẩn Quốc gia, trường THPT Thanh Chương I đạt danh hiệu đơn vị anh hùng thời kỳ đổi mới.

Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, thực hiện đồng bộ việc bố trí, sắp xếp mạng lưới trường, lớp các cấp học hợp lý trước mắt và lâu dài cho việc nâng cao chất lượng dạy và học. Kêu gọi đầu tư mở trường THPT tư thục thu hút hết số học sinh tốt nghiệp THCS có nhu cầu vào học để tiến tới phổ cập THPT.

Huy động đóng góp xã hội, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dạy và học các bậc học, hoạt động các trung tâm học tập cộng đồng, sát nhập trung tâm dạy nghề với trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, đề xuất với tỉnh cho lập dự án nâng cấp thành trường trung cấp nghề để giáo dục hướng nghiệp và đào tạo nghề cho con em trong huyện và các huyện trong vùng.

Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trách nhiệm quản lý của chính quyền, của ngành trong việc đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bố trí, đề bạt, miễn nhiệm cán bộ lãnh đạo các trường. Thực hiện nghiêm túc quy trình đánh giá, bố trí, tiếp nhận và luân chuyển giáo viên, tránh tiếp nhận tràn lan. Thực hiện nghiêm túc chính sách đối với những giáo viên không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

2.2. Phát triển văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao

Tập trung đẩy mạnh và nâng cao chất lượng cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, đưa phong trào phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, trở thành nhu cầu thiết thực, ý thức tự giác của mỗi người, mỗi thành viên trong từng gia đình cộng đồng dân cư gắn với phát động phong trào xây dựng nông thôn mới.

Tiếp tục quan tâm chỉ đạo xây dựng gia đình văn hóa, xóm, bản, đơn vị văn hóa. Vừa chú trọng củng cố, nâng cao chất lượng, giữ vững các đơn vị đã được công nhận, vừa tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ các đơn vị để phấn đấu đến năm 2015 cú 60% xóm, bản đạt đơn vị văn hóa, 83% gia đình đạt gia đình văn hóa hàng năm. Tạo lập môi trường văn hóa lành mạnh, gắn kết giữa gia đình, cộng đồng dân cư và xã hội. Thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng thiết chế VH-TT đạt chuẩn Quốc gia; quan tâm phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng, các lễ hội có giá trị lịch sử, văn hóa gắn với phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, đẩy mạnh công tác xã hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động thi đấu thể thao; khôi phục, tôn tạo và xây dựng các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng để giáo dục truyền thống và phát triển du lịch. Đến 2015 có 60% xã, thị trấn có thiết chế VH-TT đạt chuẩn Quốc gia.

Có giải pháp phủ súng truyền hình ở các vùng xa, vùng lõm, nâng cấp đài truyền hình huyện; phát triển mạnh đài truyền thanh cơ sở, mạng vô tuyến viễn thông để 95-100% hộ dân xem được truyền hình, tất cả các xã, thị trấn có đài truyền thanh, phủ sóng cơ bản vô tuyến viễn thông trên địa bàn huyện, xúc tiến, lập dự án đầu tư xây dựng Trung tâm văn hóa thể thao Rộ.

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động văn hóa, đảm bảo cho mọi hoạt động văn hóa phải được chính quyền quản lý, kiểm soát, hoạt động đúng pháp luật, đảm bảo tốt an ninh văn hóa trên địa bàn, vừa đáp ứng được nhu cầu văn hóa của nhân dân, vừa ngăn chặn hủ tục mê tín, dị đoan.

2.3. Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân

Tập trung làm tốt công tác y tế dự phũng, cung cấp đầy đủ những kiến thức cơ bản về phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc sức khỏe cộng đồng; đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực y tế để làm tốt công tác chăm súc sức khỏe ban đầu và công tác phòng bệnh cho nhân dân; không để dịch bệnh lớn xảy ra; tiếp tục đầu tư xây dựng xã chuẩn quốc gia y tế. Phấn đấu đến 2015 có 100% xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia y tế, củng cố và phát triển đồng bộ hệ thống y tế từ huyện xuống các xã, thị trấn. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện, Trung tâm y tế huyện; tranh thủ các nguồn vốn với sự đóng góp của địa phương và nhân dân từng bước nâng cấp các trạm y tế xã, thị trấn khang trang, thiết bị hiện đại; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát triển y tế tư nhân đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân.

Tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại, thu hút, tuyển dụng đội ngũ cán bộ y tế đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng chuyên môn, gắn với làm tốt công tác giáo dục, nâng cao y đức nghề nghiệp. Xây dựng đội ngũ cán bộ y tế tại bệnh viện đa khoa, phòng khám khu vực, Trung tâm Y tế huyện, các trạm y tế xã, thị trấn đồng bộ và vững về chuyên môn, đoàn kết, trách nhiệm và tâm huyết với nghề, biết tôn vinh nghề nghiệp. Đến 2015 có đủ bác sỹ ở tuyến huyện và làm việc tại trạm y tế xã, đủ nữ hộ sinh trung học ở trạm y tế xã.

Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước của chính quyền từ huyện đến các xã, thị trấn trong việc quản lý hành nghề y dược tư nhân; phối hợp với Sở Y tế sớm thành lập, xây dựng và đưa vào hoạt động trạm y tế 2 xã khu tái định cư Thanh Sơn và Ngọc Lâm.

2.4. Công tác dân số, lao động, việc làm, xóa đói, giảm nghèo và chính sách xã hội

Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tạo ý thức tự giác thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình, trọng tâm là: kìm chế, đẩy lùi, giảm nhanh tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên, giảm và ổn định mức tăng dân số tự nhiên trong cả nhiệm kỳ 8%0 giảm trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 15%, 100% trẻ em trong diện được tiêm chủng đầy đủ các loại Vacxin.

Quan tâm dúng mức đến công tác giải quyết việc làm cho lao động cả tại chỗ và đi làm ăn trong nước, đi xuất khẩu lao động; trong đó đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, dạy nghề, tổ chức học và hành nghề để phát triển nhanh các ngành nghề, hình thành các làng có nghề, làng nghề trên địa phương. Phấn đấu hàng năm giải quyết việc làm mới cho 2.500 lao động, đến 2015 có 50% lao động trong độ tuổi qua đào tạo. Có biện pháp tổ chức tốt lao động xuất khẩu để tăng nhanh số lượng, đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả chương trình xóa đói, giảm nghèo, quan tâm, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế đối với các xã xa trung tâm, mức sống còn nghèo, tiềm năng còn lớn để khai thác tiềm năng, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm, tự xóa nghèo. Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động ủng hộ “vì người nghèo” để hộ trợ các hộ nghèo xóa nhà ở tranh tre dột nát, tạm bợ; bồi dưỡng kiến thức làm ăn; vay vốn phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống. Phấn đấu đến 2015, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 5-6%.

Thực hiện tốt chính sách bảo trợ xã hội; chính sách người có công; các phong trào đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện; phát triển mạnh các loại hình dịch vụ bảo hiểm để nâng cao mức sống cho các đối tượng chính sách.

3. Công tác xây dựng chính quyền

Tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm của các đại biểu hội đồng nhân dân, các ban và thường trực HĐND trong việc tiếp xúc cử tri, tham gia giám sát việc thực hiện Nghị quyết HĐND và các chủ trương, chín sách của Quốc hội, Chính phủ và UBND các cấp tại địa phương, đảm bảo cho Nghị quyết HĐND và các chính sách của Nhà nước đi vào cuộc sống. Tăng cường cải tiến, nâng cao chất lượng nội dung văn bản, mở rộng dân chủ thảo luận, đúng góp trí tuệ của các đại biểu, trách nhiệm của các phòng, ngành chức năng trong việc giải đáp, trả lời các kiến nghị, đề xuất nguyện vọng chính đáng của cử tri và đại biểu HĐND tại kỳ họp, phát huy tốt vai trò quyết định của HĐND vào công việc trọng đại của địa phương.

Tăng cường đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực, vai trò, quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện của UBND các cấp. Trách nhiệm và năng lực tham mưu, chỉ đạo, xử lý, giải quyết công việc của các phòng, ngành chuyên môn UBND, trước hết là vai trũ, trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu. Thường xuyên làm tốt công tác tiếp dân, thanh tra giải quyết kịp thời các đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân, xử lý dứt điểm các kết luận sau thanh tra, không để đơn thư kéo dài, vượt cấp; chỉ đạo thực hiện hiệu quả công tác thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng. Tích cực đổi mới công tác quản lý, thực hiện phân công, phân quyền cụ thể, đề cao trách nhiệm cá nhân đi đôi với kiểm tra, giám sát, xây dựng, tổng kết, nhân rộng các mô hình, điển hình, gắn với đánh giá, luân chuyển, đề bạt, bố trí sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các phòng chuyên môn phù hợp, đảm bảo phát huy tốt trình độ đào tạo, năng lực, sở trường của từng cán bộ, bộ máy hoạt động đồng bộ, xử lý công việc nhanh chóng, giảm nhũng nhiễu, phiền hà cho dân, cho nhà đầu tư, cho các doanh nghiệp.

4. Quốc phòng - an ninh

Tiếp tục quán triệt sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của nhiệm vụ quốc phòng - an ninh trong tình hình mới; quan điểm về phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh, từ đó nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mọi công dân trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng khu vực phòng thủ, xây dựng cơ sở, cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, đề án 3 yên, 3 giảm; xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thủ địch, đảm bảo ổn định chính trị, an ninh biên giới, an ninh nông thôn, vùng đặc thù và trật tự an toàn xã hội để phát triển. Tổ chức tốt diễn tập khu vực phòng thủ huyện, chiến đấu trị an xã; tuyển và giao quân hàng năm.

Đẩy mạnh công tác tố giác, phòng ngừa, đấu tranh, tấn công, truy quét các loại tội phạm, tệ nạn xã hội:(ma túy, lâm tặc, trộm cắp, hủy hoại tài sản công dân, cờ bạc, đánh nhau gây thương tích, buôn lậu, tham nhũng…. Tăng cường củng cố lực lượng, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án theo tinh thần Nghị quyết 08 NQ/TW của Bộ Chớnh trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong tình hình mới” để kìm chế, đẩy lùi tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội trên địa bàn, đảm bảo người nghiện ma túy được đưa vào quản lý cai nghiện.

Thường xuyên chăm lo, xây dựng lực lượng công an, quân sự, biên phòng và các cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh, đoàn kết, phối kết hợp chặt chẽ và đồng bộ; củng cố và nâng cao chất lượng, trách nhiệm của lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, công an xã, thị trấn, bảo vệ cơ quan để giúp cấp ủy, chính quyền phát hiện, giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, vụ việc ngay từ đầu tại cơ sở, không để phát sinh phức tạp tình hình, không để bị động.

III.  NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận để hội nhập và phát triển

Thực hiện đồng bộ các biện pháp, các hình thức về công tác tư tưởng đối với từng lĩnh vực, từng đối tượng một cách phù hợp. Trước hết thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vào các công việc trọng đại của địa phương; thực hiện công khai, minh bạch rõ ràng những nghĩa vụ và quyền lợi của công dân; tăng cường công tác đối thoại, phản biện, cung cấp thông tin kịp thời để nhân dân tham gia bàn bạc, giám sát, tạo sự thống nhất, đồng thuận trước khi tổ chức thực hiện.

2.  Tích cực đào tạo, thu hút nhân lực, huy động tối đa nguồn lực cho đầu tư phát triển.

Vừa tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường, vừa phát huy hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng, Trung tâm dạy nghề, mở rộng hình thức liên kết, tranh thủ các chương trình, dự án với sự đóng góp của người lao động để mở các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, các lớp tập huấn kỹ thuật cho người lao động, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cho các doanh nghiệp (kể cả xuất khẩu lao động) và yêu cầu thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Có cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo cơ hội và môi trường thuận lợi thu hút con em trong và ngoài huyện tốt nghiệp đại học chính quy hoặc đang công tác ở nơi khác về công tác tại huyện đối với những ngành, lĩnh vực còn thiếu. Tiếp tục thực hiện tiếp nhận con em địa phương tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp, trong đó ưu tiên những con, em đã có thời gian trải qua quân đội về công tác tại các xã, thị trấn thay thế dần những cán bộ chưa có bằng chuyên môn để thực hiện chuẩn hóa 100%.

Tổ chức kiểm tra, kiểm kê lại toàn bộ đất đai, tài nguyên, khoáng sản, thiết lập lại kỷ cương, đưa vào quản lý, lập quy hoạch, kêu gọi đầu tư phát triển, khai thác có hiệu quả.

Tạo môi trường tốt để động viên đội ngũ trí thức, nhà khoa học, các doanh nhân con em Thanh Chương trong và ngoài nước, đóng góp trí tuệ, đầu tư vào phát triển các lĩnh vực; huy động hết mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, nguồn vốn từ các chương trình, dự án… đầu tư về phát triển trên địa bàn.

3. Làm tốt công tác xây dựng, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch; quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch, kêu gọi đầu tư phát triển nhanh công nghiệp, thủ công nghiệp, đô thị, thị trấn, thị tứ.

Ngoài quy hoạch chung về kinh tế - xã hội đã được UBND tỉnh phê duyệt, xúc tiến nhanh việc lập quy hoạch chi tiết phát triển vùng, lĩnh vực, các khu công nghiệp vừa và nhỏ, các khu đô thị, thị trấn, thị tứ để phát động sức đóng góp của nhân dân cùng với tranh thủ vốn đầu tư của Nhà nước, của các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng, làm tiền đề cho việc kêu gọi lập dự án đầu tư. Phấn đấu đến 2015, phát triển được 2-3 khu công nghiệp; 2-3 khu đô thị, hình thành được Thị trấn Rộ; 10 thị tứ trung tâm vùng, khuyến khích phát triển chợ nông thôn.

4. Tập trung xây dựng và triển khai thực hiện 7 chương trình trọng điểm

- Chương trình phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp.

- Chương trì phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ.

- Chương trình phát triển kinh tế trang trại, gia trại.

- Chương trình phát triển giao thông nông thôn, giao thông nội đồng.

- Chương trình phát triển khu kinh tế cửa khẩu.

- Chương trình phát triển nguồn nhân lực.

- Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng tái định cư thủy điện Bản Vẽ.

5. Tăng cường công tác cán bộ, công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, đôn đốc thực hiện

Thường xuyên phát huy vai trò lãnh đạo, kiểm tra, giám sát của cấp ủy Đảng, của HĐND, vai trò quản lý, điều hành của UBND các cấp; đề cao năng lực và trách nhiệm tham mưu, tổ chức thực hiện của các ban, phòng, ngành chuyên môn; coi trọng công tác vận động, tập hợp, phát động thi đua của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, công tác xây dựng, tổng kết và nhân rộng các mô hình, điển hình, tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm. Thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền cụ thể cho từng tổ chức, cá nhân, trước hết là người đứng đầu./.


Uỷ ban nân dân huyện thanh chương

 

 
 |  Đầu trang
 
Tin đã đưa:
<<   <  1  >  >>  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư viện ảnh
Skip portletPortlet Menu